Đề Xuất 5/2022 # Chim Trong Văn Học–Nghệ Thuật Việt Nam – Bài 1 Trong 2 # Top Like

Xem 12,276

Cập nhật nội dung chi tiết về Chim Trong Văn Học–Nghệ Thuật Việt Nam – Bài 1 Trong 2 mới nhất ngày 18/05/2022 trên website Lamdeppanasonic.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 12,276 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Nuôi Chim Chào Mào Để Có Giọng Hát Hay – Xưởng Chế Tác Lồng Chim Gỗ Quý
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đồng Xanh – Đồng Nghệ Đà Nẵng Chi Tiết Nhất
  • Cám Hiển Bảo Khánh Chào Mào Dưỡng
  • Vào Cám Cho Chào Mào Khi Chuyển Vùng – Đổi Cám
  • Cám Chào Mào Nam Đà Nẵng Tại Bà Rịa
  • Chim trong văn học–nghệ thuật Việt Nam – Bài 1 trong 2

    Dẫn nhập

    Giới thiệu một số loài chim

    Ác là

    Áo già / Di đầu đen

    Bách thanh / Chàng làng

    Bạc má

    Bắt cô trói cột

    Bìm bịp

    Bói cá / Chài chài / Chẽo chẹt / Chim chài / Thằng chài / Thầy bói

    Bông lau / Hoành hoạch / Quành quạch / Trao trảo

    Bồ câu

    Bồ chao / Khướu đầu trắng

    Bồ nông / Chàng bè

    Bồng bồng

    Cà kheo

    Cắt

    Chàng nghịch

    Chào mào / Chim đội mũ

    Chèo bẻo

    Chiền chiện

    Chim cát

    Chim học trò / Cò xanh

    Chim khách

    Chim lam

    Chim nghệ / Hít cô

    Chim sâu / Ốc mít

    Chim vịt / Chim lò rèn

    Chim xanh

    Thanh tước

    Chích / Chích bông / Chim thợ may

    Chích chòe / Chích chòe than

    Chích chòe lửa

    Chìa vôi

    Choi choi

    Cò / Cò trắng

    Cò ngàng lớn & Cò ngàng nhỏ

    Cò bợ

    Cò hương

    Cò lửa

    Cò ma / Cò ruồi

    Cò nâu

    Cò nhạn / Cò ốc

    Cò quắm

    Công

    Cồng cộc / Cốc đen

    Cổ rắn / Điêng điểng

    Cu / Cu gáy / Cu cườm

    Cu ngói / Chim ngói

    Cuốc

    Cuốc lùn / Vỏ vẻ

    Cú / Cú mèo

    Cú lợn

    Cú vọ

    Cúm núm / Gà đồng

    Cun cút

    Di / Ri / Chim lá rụng / Chim mía / Mỏ chì / Rồng rộc / Sắc ô / Di đá

    Diều

    Diệc

    Diệc lửa

    Dù dì

    Dẫn nhập

    Vè chim chóc

    Nghe vẻ nghe ve, nghe vè chim chóc

    Hay moi hay móc, vốn thiệt con dơi

    Thấy nắng thì phơi, là con diệc mốc

    Lặn theo mấy gốc, là chim thằng chài

    Lông lá thật dài, là con chim phướn

    Rành cả bốn hướng, là chim bồ câu

    Giống lặn thật lâu, là con cồng cộc

    Ăn táp sồng sộc, là con chim heo

    Ham đậu cheo leo, là chim lá rụng

    Cắm đầu muốn thụng, là chim thầy bói

    Hay ăn hay nói, ấy thật chim quyên

    Vừa đứng vừa biên, là chim học trò

    Rủ nhau đi mò, là con chim ốc

    Gõ mõ lốc cốc, là chim thầy chùa

    Tụng kinh bốn mùa, là chim bìm bịp

    Chạy theo không kịp, là chim hít cô

    Bắt mẹ xẻ khô, là chim điêng điểng

    Không ăn ngoài biển, là chim le le.

    Nguồn: Đặng Anh Tú (2009). Đồng dao Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin.

    Óc tò mò khoa học của tôi bị kích thích mạnh vì bài đồng dao này. Đối với một số tên chim, tôi thắc mắc: đó là chim gì vậy? Khổ nỗi các tài liệu điểu học hàn lâm không ghi loài chim nào mang tên hít cô, học trò, lá rụng, thằng chài, thầy bói, thầy chùa… Thử tra cứu về con bìm bịp quen thuộc thì thấy tài liệu điểu học nêu ra hai loài riêng biệt là “bìm bịp lớn” và “bìm bịp nhỏ”. Loài nào được thể hiện trong bài đồng dao, hay cả hai?

    Hoặc là khi đọc thơ Du Tử Lê và nghe ca khúc phổ nhạc của Anh Bằng, ta muốn tìm hiểu về con chim bói cá. Tài liệu điểu học nêu ra những nhóm chim “bói cá”, “bồng chanh” và “sả”; còn dân gian có thể kể cho bạn nghe về “chim chài”, “thần chài” và “chài chài” – tất cả đều là chim bói cá. Thế thì con chim bói cá trong thơ và nhạc đó có thể là loài bói cá nào?

    Còn thêm rắc rối nữa. Lấy ví dụ: văn nhân thi sĩ vẫn viết đơn giản là “chim chích”, nhưng tài liệu điểu học kể ra hơn 20 loài chích ở Việt Nam. Vậy thì họ tức cảnh sinh tình từ con chích nào, ta chẳng biết!

    Hóa ra từ dân gian qua văn học–nghệ thuật rồi đến lĩnh vực hàn lâm là những khoảng trống mênh mông!

    Bài viết này cố gắng xác định một số loài chim được thể hiện trong văn học–nghệ thuật Việt Nam. Cần nêu rõ là bài này không tham khảo cổ thi và cổ văn vì không thể đối chiếu với những loài chim ở Việt Nam thời bây giờ. Ví dụ như ta không bàn đến “con quốc quốc” và “cái gia gia” trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, bởi vì ta không biết khu hệ chim ở vùng Đèo Ngang thời Bà Huyện Thanh Quan là như thế nào. Tương tự, ta không biết khu hệ chim xung quanh Thúy Kiều thời Gia Tĩnh triều Minh, thế nên không thể bàn đến con quyên trong Đoạn trường tân thanh.

    Để dễ được trông thấy mà đi vào văn học–nghệ thuật Việt Nam đương đại, thiển nghĩ các loài chim cần có hai đặc tính chính:

    1. Chim hiện diện phổ biến ở Việt Nam. Còn những loài chim hiếm hoi di cư đến trú đông ở Việt Nam thì liệu bao nhiêu nhà văn và nhà thơ trông thấy mà đưa vào tác phẩm của họ? Cho nên ta không tính đến những loài như thế.
    2. Chim sống gần con người. Cụ thể là gần thôn làng, ruộng đồng, hoặc vùng bờ biển, sông, hồ… nơi con người có thể lui tới. Còn ví dụ như những loài chim sống xa tít trên vùng núi non Tây-Bắc hoang vu thì miễn bàn!

    Người tổng hợp chọn trình bày các loài chim theo hai đặc tính đó, và cũng không trích thuật chuyện tâm linh, huyền bí.

    Vì một số lý do, người viết cáo lỗi không thể xin phép các tác giả thơ, văn, nhạc và hình ảnh sử dụng trong bài này. Trang web không có tính thương mại này nhằm tạo một cầu nối giữa văn học–nghệ thuật và điểu học. Nếu bạn đọc xem qua bài này rồi yêu thương chim chóc nhiều hơn và qua đó yêu môi trường hơn, thì cái tội sử dụng chất liệu mà không xin phép của người tổng hợp hẳn sẽ được dung thứ.

    Giới thiệu một số loài chim

    Ác là

    Đồng dao / Vè

    Bồ các là bác chim ri

    Chim ri là dì sáo sậu

    Sáo sậu là cậu sáo đen

    Sáo đen là em tu hú

    Tu hú là chú bồ các

    Bồ các là bác chim ri…

    . Ba chấm và một vạch. Tạch tạch tạch tè. Cậu chưa từng nghe bản Symphony số 5 của Bethoven à?”

    Đúng thật tín hiệu Morse ●●● biểu hiện mẫu tự V, theo nhịp điệu bốn tiếng nhạc đầu của bản Symphony số 5, và thêm điều trùng hợp: V cũng là số 5 La Mã.

    Loài điểu học: bắt cô trói cột – Indian cuckoo (Cuculus micropterus)

    Cái tên ‘bắt cô trói cột’ đã quá thông dụng trong dân gian nên ngành điểu học dùng luôn tên này. Đó là tên mà người Việt gọi theo tiếng kêu của con chim. Có sách điểu học phương Tây mô tả tiếng kêu là ‘one more bottle’. Cả hai cụm từ ‘bắt cô trói cột’ và ‘one more bottle’ là do óc tưởng tượng phong phú của ta và tây chứ không giúp ích gì cho người muốn nhận định loài chim này qua tiếng kêu. Tôi nghĩ theo đúng âm điệu của tiếng kêu mà đặt tên cho loài chim này là ‘bắt nó trói gô’ thì đúng hơn, bởi vì 3 âm đầu cao bằng nhau và âm cuối thấp hơn.

    Nếu bạn thử huýt sáo theo âm điệu ‘bắt nó trói gô’ thì đó chính là tiếng kêu của loài chim này.

    Đây là loài cu cu cỡ trung bình, dài 32 cm. Loài ký sinh trong tổ, thường đẻ trứng vào tổ chim chèo bẻo. Xem Mục Tu hú để biết thêm về tập tính ký sinh trong tổ.

    Ở Việt Nam, loài bắt cô trói cột định cư ở hầu hết các vùng núi rừng miền Bắc và miền Trung, được biết đồng bằng ở hai miền này cũng có.

    Sinh cảnh sống ưa thích là rừng thứ sinh thường xanh và rừng thay lá, cũng sống trong các khu vườn và bụi cây. Vào mùa đông, có một vài quần thể từ phương bắc đến trú đông.

    Tiếng kêu:

    https://www.xeno-canto.org/species/Cuculus-micropterus

    Bìm bịp

    Ca dao

    Bìm bịp kêu nước lớn em ơi

    Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê.

    Đồng dao

    Bắc kim thang

    Con le le đánh trống thổi kèn

    Con bìm bịp thổi tò tí te tò te.

    Xem video Bé Bào Ngư:

    https://www.youtube.com/watch?v=dxr8CP8h7vI

    Thơ

    Chiều! – Tuyền Linh

    Ngồi nghe bìm bịp gọi tình

    Chiều đi chầm chậm Vũng Liêm thật buồn

    Sắc trời chờ chực mưa tuôn

    Nghe trong sâu thẳm vạn nguồn nhớ nhung

    Chiều quê – Kim Thư

    Bìm bịp kêu… gọi hoài con nước lớn

    Lục bình trôi lay lắt tím mơn man

    Con chuồn ớt cõng nỗi nhớ thênh thang

    Mây lảng đảng,,, nhuộm chiều… bâng khuâng… tím!

    Tháng Tư về – Lê Gia Hoài

    Rồi một ngày tiếng bìm bịp dịu êm

    Giục bông lúa căng tràn dòng sữa mới

    Rét nàng Bân cứ ngẩn ngơ đứng đợi

    Khúc giao mùa ai hát cuối đồng xa.

    Về bến quê xưa – Nguyễn Kim Hương

    Thuyền ai lặng lẽ xuôi dòng nước

    Bìm bịp kêu buồn nỗi nhớ xưa

    Xóm vắng chân chiều thong thả bước

    Một mình ngan ngát gió sông đưa

    Truyện ngắn

    Con chim bìm bịp – Trương Hoàng Minh

    Học được cách làm bài thuốc hay, tôi ráo riết săn lùng ổ chim bìm bịp, bắt chim con về ngâm rượu cho ba má tôi uống. Bìm bịp thường sống và làm ổ ven sông rạch nên tôi càn lùm lướt bụi, lội sình, dang nắng dầm nước, bất chấp vất vả hiểm nguy, rình rập tìm kiếm gần nửa tháng mới gặp được một ổ trong đám bần và ô rô cóc kèn rậm rạp. Lòng hiếu thảo của tôi được đền đáp xứng đáng. Để món quà cho ba má có thêm ý nghĩa, tôi chưa vội ra tay mà ngồi núp trong lùm đợi chim cha mẹ tha mồi về cho con ăn bắn luôn một thể. Nhưng… nếu bắn chết chim cha mẹ thì con nào tha mồi tha thuốc về nuôi nấng chữa trị vết thương cho lũ chim non?

    Nếu không có mồi ăn, không có thuốc chữa trị lũ chim non sẽ chết đói, mình sẽ không lấy được thuốc chẳng phải hoài công vô ích sao? Nghĩ vậy nên tôi không chờ bắn chim cha mẹ, leo lên nhánh bần có ổ chim. Trong ổ có ba con chim non chưa mọc lông vũ đang nằm ngủ vô tư hồn nhiên. Nghe tiếng động, ba con chim non tưởng cha mẹ tha mồi về, vui mừng ríu rít, nghểnh cổ lên, hả hoác miệng chờ miếng mồi tươi ngon chứ chúng đâu có ngờ đó lại là tên hung thần ác sát sắp giáng họa lên đầu chúng!

    Tôi bắt một con cầm gọn trong lòng bàn tay. Hồi nãy nó vui mừng bao nhiêu, bây giờ hoảng loạn bấy nhiêu. Nó vùng vẫy, chòi đạp thoát thân một cách yếu ớt, miệng kêu lên chíp chíp liên tục như báo cho cha mẹ nó nghe biết, đến bảo vệ cứu giúp nó. Tôi dừng tay ngẫm nghĩ. Mình sơ ý bị trặc khớp, bong gân còn đau nhức thấu trời, huống gì nó bị bẻ một lượt đến sáu khúc xương! Nếu có ai đó bẻ chân bẻ tay mình như vậy liệu mình chịu nổi không? Ba má mình sẽ nghĩ gì? Nếu bài thuốc không hiệu quả thì có phải mình đã giết oan ba sinh linh bé nhỏ không đủ sức kháng cự hoặc chạy trốn! Tôi đặt con chim trở lại ổ, cả ba con đều nằm im thin thít trông thật tội nghiệp, đáng thương.

    Tôi rời ổ chim bìm bịp với nhiều ý nghĩ lung tung. Loài vật cũng có gia đình, cha mẹ, con cái, anh chị em và thương yêu, đùm bọc, chia sẻ mọi thứ với nhau như loài người. Chúng cũng biết sung sướng khi được sống bình yên, cũng biết khổ đau khi bị săn bắt, giết hại. Báo hiếu cho cha mẹ là chuyện nên làm bằng nhiều cách khác nhau nhưng không thể lấy khổ đau bất hạnh của chúng để mưu cầu sung sướng hạnh phúc cho mình. Để có những món ăn thơm ngon khoái khẩu cho gia đình, thời gian qua tôi đã bắn chết nhiều loài chim, trong số đó chắc chắn có không ít chim cha hoặc chim mẹ đang nuôi con và có thể cả hai, gián tiếp giết chết lũ chim non chưa đủ sức tự lực cánh sinh vì thiếu mồi. Tôi đã phạm phải sai lầm đáng trách, sung sướng trên sự đau khổ của các loài chim. Từ đó tôi đốt bỏ cái nạng giàn thun và thề sẽ không bắn chim nữa.

    Biển người mênh mông – Nguyễn Ngọc Tư

    Ông già Sáu mới dọn lại thuê một căn chung vách với nhà Phi. Ông cũng nghèo, lúc chuyển đến đồ đạc chỉ gói gọn bốn cái thùng cáctông, dọc đường rớt đâu mất một thùng đựng mùng mền quần áo nên chỉ còn bộ đồ duy nhất dính da. Ai cũng ái ngại, ông Sáu phủi tay cười, “Thôi, của đi thay người, ba thứ đó mà nhằm gì, mất con quỷ này mới tiếc.” Ông chỉ tay vô cái lồng trùm vải xanh. Giở ra nhìn thấy một con bìm bịp chỗ nào cũng đen trủi, trừ đôi cánh màu xám. Đám trẻ xúm lại, bảo nhau “Ngộ quá ha. Nó hót làm sao?” “Bậy, bìm bịp đâu có hót, nó kêu, tiếng của nó phát ra từ trong cổ họng nầy nè. Giọng nó ấm lắm, tiếng kêu phát ra từ tấm lòng mà. Mấy con chim há mỏ ra hót lách chách thấy vậy chớ không chân tình đâu. Rồi ông già dừng lại, nuốt nước miếng, hạ giọng, con người ta cũng vậy thôi hà.” Đám trẻ nấn ná chờ hoài, mãi con bìm bịp mới cất tiếng kêu, tụi nó tiu nghỉu, “Kêu gì buồn thấu trời.” Ông già cười hỉ hả, “Buồn hả? buồn chớ sao không! Trời sanh ra cho nó con mắt đỏ như khóc vầy không buồn sao được!”

    Bên đập đồng cháy – Võ Hồng

    Con chim bìm bịp cất giọng trở canh. Tiếng chim vang từ bụi rậm ở bờ ao, lanh lảnh rền xa trong bầu không khí vắng yên mát lạnh.

    … Lại tiếng con bìm bịp. Một tiếng gọi ồm ồm, hối thúc, giục giã. Một tiếng nhẹ nhàng như tiếng muỗng bột đổ vào khuôn bánh xèo nóng mỡ. Hồi còn con gái mình đi chợ Giả về nghe tiếng “xèo” của con bìm bịp, mình hay nói đùa với con Thiện “Thiện ơi, bước lẹ lên đi mày. Ở nhà đúc bánh xèo chờ rồi đó.” Thoáng chốc mà mình đã già rồi.

    Loài điểu học: bìm bịp lớn – greater coucal (Centropus sinensis)

    Bìm bịp thuộc Họ Cu cu (Cuculidae). Một số loài chim quen thuộc trong họ này là bắt cô trói cột, chim vịt, cu cu hay chèo chẹo, chẹo đất, phướn, tu hú…

    Ở Việt Nam có hai loài phổ biến theo tên điểu học là bìm bịp lớn và bìm bịp nhỏ, khó phân biệt ngoài hoang dã. Dân gian thường gọi bìm bịp lớn là bìm bịp và bìm bịp nhỏ là bìm bịp cóc. Rất có thể bìm bịp lớn là loài đi vào văn học Việt Nam bởi vì loài này định cư toàn cõi Việt Nam và có tiếng kêu dài hơn, vang vọng hơn, dễ tạo chú ý từ xa; trong khi bìm bịp nhỏ chỉ định cư ở miền Nam và có tiếng kêu không tạo ấn tượng nhiều.

    Bìm bịp lớn có thân dài 48-50 cm. Phân biệt với bìm bịp nhỏ: lưng dưới có màu đen, lông cánh màu nâu đều, mắt đỏ au, đuôi ngắn hơn. Trống mái giống nhau. Tổ chim bìm bịp được xây dựng trong bụi rậm cách mặt đất khoảng 1-3 m. Chim non có màu nâu đen hoặc xám đen.

    Bìm bịp lớn thích sống trong thảm cây bụi, lau lách và cỏ rậm, rừng thứ sinh, rừng tràm và rừng ngập mặn gần sông suối, đầm lầy, vườn tược ở thôn quê, ngoại ô. Có lúc bay vào tới tận cửa nhà người viết bài này trong một khu dân cư ở ngoại ô Bangkok.

    Chim con có nhu cầu thức ăn ngày một nhiều, thời gian ở tổ lại khá lâu nên bố mẹ biết dự trữ thức ăn bằng cách bắt rắn về “giam lỏng”. Do vậy, mỗi khi tìm thấy tổ bìm bịp là có thể tìm thấy rắn gần đó. Nhưng tại sao rắn không làm hại đến chim non lại là điều bí ẩn! Có ý kiến cho rằng lông và phân bìm bịp quanh tổ có mùi đặc trưng mà hầu hết các loài rắn không dám đến gần.

    Có người nuôi bìm bịp từ nhỏ và thuần hóa chúng rồi đi đâu có chúng đi theo như con cún. Bìm bịp được huấn luyện có thể giúp bắt chuột xung quanh nhà, hoặc thậm chí đi theo chủ nhân để săn chuột.

    Bìm bịp lớn thường kêu khi đậu trên ngọn cây hoặc chui rúc trong bụi rậm. Tiếng kêu: ‘pum pum pum’ hoặc ‘púp púp púp’ lặp đi lặp lại, âm vực lên đều rồi xuống đều; hoặc tiếng kêu ‘ục ục’ như tiếng nước đổ ra khỏi chai. Ở miền Tây, tiếng kêu thường vang vào buổi chiều nên mới có thành ngữ “bìm bịp kêu chiều”, và văn học cũng thường cho rằng tiếng vang cất lên lúc con nước lên.

    Tiếng kêu:

    https://www.xeno-canto.org/species/Centropus-sinensis

    Loài điểu học: bìm bịp nhỏ, bìm bịp cóc – lesser coucal (Centropus bengalensis)

    Thân dài 35 cm. Phân biệt với bìm bịp lớn: lưng dưới có màu nâu, lông cánh có nhiều vằn màu sáng, mắt đen, đuôi dài hơn, và móng chân sau rất dài.

    Có thể mùa đông bay qua vùng Đông Bắc và Bắc Trung Bộ trên đường đi trú đông, định cư từ Nam Trung Bộ đến Nam Bộ. Gặp tới độ cao khoảng 1.800 mét.

    Sống ở thảm cây bụi, bìa rừng thứ sinh, thảm cỏ cao và vùng đầm lầy, kể cả rừng tràm.

    Tiếng kêu không vang vọng như tiếng bìm bịp lớn và thường ngắn hơn.

    Tiếng kêu:

    https://www.xeno-canto.org/species/Centropus-bengalensis

    Bói cá / Chài chài / Chẽo chẹt / Chim chài / Thằng chài / Thầy bói

    Vè / Đồng dao

    Có sách cầm màu

    Là chim thầy bói

    Cắm đầu muốn thụng

    Là chim thầy bói

    Thơ

    Ao thu & chim bói cá – Đỗ Văn Tri

    Em như ao thu lặng lẽ

    Có trong lòng mây trắng, trời xanh

    Mà anh đến, anh đi như chim bói cá

    Vỡ cả trời xanh, mây trắng tan tành…

    Khúc thụy du – Du Tử Lê

    như con chim bói cá

    trên cọc nhọn trăm năm

    tôi tìm đời đánh mất

    trong vụng nước cuộc đời

    như con chim bói cá

    tôi lặn sâu trong bùn

    hoài công tìm ý nghĩa

    cho cảnh tình hôm nay.

    Âm nhạc

    Khúc thụy du – Anh Bằng

    Tuấn Ngọc – https://www.youtube.com/watch?v=nlPckWHBypA

    Anh là chim bói cá

    Em là bóng trăng ngà

    Chỉ cách một mặt hồ

    Mà muôn trùng chia xa.

    Truyện ngắn

    Rừng mắm – Bình Nguyên Lộc

    Trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời trưa tháng giêng, đang yên lặng và bền chí rình cá.

    Trong thế giới bùn lầy mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cả, từ ông nội nó cho đến những con sinh vật nhỏ mọn qui tụ quanh các ngọn nước.

    Màu xanh của chim thằng chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền chí của các lão cò sầu não là ngang vai thôi, cái bền chí nhìn rất dễ mê, nhưng mê nhứt là mũi tên xanh bắn xuống nước nhanh như chớp, mỗi khi thằng chài trông thấy con mồi.

    Bãi gió cồn trăng – Hồ Trường An

    Bỗng một con chim thằng chài lông xanh bay lướt qua bên kia đám điên diển trổ bông vàng sát mé nước. Bà già bảo hai chị em:

    – Tui phải đi, đã tới giờ có người kêu tui đó! Vậy tui cho mấy cô mớ cá tôm này.

    Bút ký

    Chim chài chài – Lê Văn Thưa

    Ven sông ven hồ nước ta bỗng thấy thoáng bay vút đi một con chim nhỏ có màu sắc sặc sỡ. Thì đó chỉ có thể là chim chài chài, một loại chim ăn cá rất phổ biến.

    Ai dã qua tuổi thơ mà chưa từng ngắm loài chim này bắt cá? Chúng quen đứng rình ven bờ rồi lao bủm xuống mặt nước, khi rời mặt nước thể nào cũng có một con cá nhỏ kẹp trên mỏ. Chúng có một bộ lông đặc trưng: cánh mầu xanh dương, ngực và chân màu hồng đỏ trông thật đẹp mắt. Chẵng dể dàng gì để có dược những bức hình chụp loài chim khá nhút nhát nầy, phải kiên trì mới có được.

    Câu chuyện của dòng sông – Diệp Minh Tâm

    Kỳ rồi tôi có chỉ cho các cháu con chim bói cá đang đậu ở xa nên các cháu không thấy rõ. Rồi khi nó kêu chát chúa tôi cho biết đó là tiếng kêu của con chim bói cá nọ…

    Có nhiều loài chim bói cá, cho nên các chuyên gia nghiên cứu về chim (trong ngành học chuyên môn gọi là điểu học) phân loại và gọi loài này là sả khoang cổ, tiếng Anh là collared kingfisher. Collared tức là mang vòng cổ (collar, giống như vòng cổ của chó), còn kingfisher chỉ chung các loài bói cá. Các cháu thấy không: cổ màu trắng giống như con chim mang vòng cổ vậy. Các cháu tìm trên Google theo “sả khoang cổ” hoặc “collared kingfisher” thì sẽ thấy vô số mô tả và hình ảnh về con chim này.

    Tôi quên kể thêm cho các cháu: con chim này có đôi mắt rất tinh, có thể nhìn một con côn trùng hoặc một con cá nhỏ cách xa cả trăm mét. Nhờ vậy mà nó thể bay nhanh tới, và khó có con mồi nào thoát khỏi chiếc mỏ dài của nó.

    Bức ảnh trên cho thấy điều gì? Cho tôi niềm vui, vì biết có chim bói cá bay qua lượn lại trên khúc sông này tức là sông còn có cá, tức là môi trường còn tốt. Khi ta không thấy con chim nào thì e rằng môi trường ở đó không tốt: không còn sâu bọ cho chim sâu, không còn cá cho chim bói cá.

    Đầm Thị Nại – bán đảo Phương Mai: Bức tranh sơn thủy trong lòng thành phố – ngnghai

    Trong đầm, ở gần phía Tây có một đảo nhỏ nổi lên hình dáng trông xa tựa như một ngôi tháp cổ, gọi là tháp Thầy Bói. Có người giải thích sở dĩ có tên như vậy vì xưa kia có một ông thầy xem bói rất giỏi đến đây xây tháp, hành nghề. Lại có thuyết cho rằng, thầy bói là tên của một giống chim ăn cá, lớn bằng bắp tay, lông xanh, ức đỏ, mỏ dài, gọi là chim bói cá, hoặc chim thầy bói. Giống chim này thường tụ nơi khóm đá để bắt mồi. Khóm đá dáng tròn tròn nho nhỏ trông như ngọn tháp, nên gọi là tháp Thầy Bói.

    Không ai cưới hỏi, là chim bông lông

    Người duy nhất – Dạ Ngân

    Chị gật đầu, có vẻ quan tâm tuy chị biết thừa những điều này rồi. Cái nghề chơi chim, gác chim của ông chồng chị thì nổi tiếng cả xứ này chứ đâu phải vùng quê nhỏ bé này. Đến giờ, thỉnh thoảng cũng có người tìm đến anh để tìm hiểu về cách nuôi chim cu gáy, chim chìa vôi, trao trảo hoặc cách gác lục, gác lưới bắt chim, chọn chim hay chim dở đó thôi. Nhưng lẽ nào anh chỉ còn giữ lại bấy nhiêu? Lẽ nào anh không còn ước muốn gì nữa trong cuộc đời này?…

    Thế mà, chỉ một cơn bệnh thập tử nhất sinh đã thay đổi hoàn toàn. Mọi thứ với anh đều như vô nghĩa, mối quan hệ vợ chồng, tình gia đình, con cái… Anh thu mình lại, không muốn ai can dự vào cuộc đời mình. Có mở miệng nói về chuyện này chuyện kia cũng chỉ là cho có nói. Riêng có thú chơi ngày xưa là anh còn giữ lại như nuôi gà tre, nuôi chim, nuôi thỏ. Góc vườn này là vương quốc của anh đó. Có lẽ anh thích nghe tiếng gù gù êm ái của loài cu cườm, tiếng hót của chim chìa vôi hay tiếng “ríu” của con trao trảo trong mấy chiếc lồng treo trên cháng cây kia còn hơn gặp mình, nghe mình nói chuyện, chị nghĩ thầm như vậy…

    Nguyệt quế – Nguyễn Ngọc Tuyết

    … Góc vườn này là vương quốc của anh đó. Có lẽ anh thích nghe tiếng gù gù êm ái của loài cu cườm, tiếng hót của chim chìa vôi hay tiếng ‘ríu’ của con trao trảo trong mấy chiếc lồng treo trên cháng cây kia còn hơn gặp mình, nghe mình nói chuyện, chị nghĩ thầm như vậy…

    Truyện dài

    Chú Tư Cầu – Lê Xuyên

    Hai con chim trao trảo đuổi nhau trên cành kêu chí chóe, con trống rượt con mái bay lạt xạt trên ngọn cây, con nầy không chịu trốn thẳng đi mà chỉ bay loanh quanh, lộn đi lộn lại để cuối cùng nằm mọp xuống chịu trận mà kêu chiêm chiếp nửa như đau thương nửa như âu yếm…

    Tản văn

    Chim hoành hoạch – Y Nguyên

    Cây mai nhà Lữ thỉnh thoảng vẫn có sâu và lũ hoành hoạch. Chim sâu lại đợi những trưa vắng người để sà xuống nghiêng ngó, tìm bắt sâu non. Lạ gì!

    Ấy vậy, nhưng… quả có điều lạ!

    Cu Lữ vừa dợm quay vào nhà đã thấy con hoành hoạch trở lại. Nó đảo một vòng, sà xuống, mỏ ngậm tòn ten một con sâu. Ái chà! Con chim này mới kỳ cục, không bắt sâu cho cây thì chớ, lại còn “tha” sâu về! Được! Để xem mày định làm gì. Con hoành hoạch liếc mắt, nghi ngại nhìn Lữ. Thấy cu Lữ “lơ đãng”, chú chàng có vẻ yên tâm, ngoắc chiếc đuôi dài, biến ngay vào vòm lá. Đáp lại tràng tiếng “hoạch hoạch” là cả một chuỗi thanh âm xôn xao, líu ríu… Ui trời! Bây giờ thì cu Lữ hiểu cả. “Điều bí mật” to tướng giấu sau vòm lá, trên chạc ba cây mai chính là những tiếng líu ríu kia. Hèn chi “chú” hoành hoạch mẹ cứ đi đi, về về. Chưa đầy nửa phút, chim mẹ lại te tái chui ra, bay vút. Chỉ chờ có thế, cu Lữ hậm hụi bắc ghế… A, kia rồi! Giữa chạc ba là một chiếc tổ. Trong tổ, 2 con hoành hoạch non da mép vàng chạch, lông cánh lưa thưa đang ngọ nguậy đầu, chép chép mỏ. “Trúng” to thật! Từ lâu, cu Lữ vẫn thầm mơ một chiếc lồng và những chú chim. Được đấy, cứ đợi lũ hoành hoạch non đủ lông đủ cánh rồi thì… Phen này, đám bạn Lữ sẽ tha hồ mà lác mắt!

    Loài điểu học: bông lau mày trắng – yellow-vented bulbul (Pycnonotus goiavier)

    Thuộc Họ Chào mào (Pycnonotidae) gồm những loài chim hoặc biết hót hoặc có tiếng kêu chát chúa; tất cả có kích thước trung bình. Các loài quen thuộc trong họ này là cành cạch thuộc các chi Alophoixus, Hemixos, Hypsipetes, Iole và Ixos; 33 loài chào mào và bông lau thuộc chi Pycnonotus, và khướu. Trong dân gian, các tên bông lau, chào mào và hoành hoạch thường được dùng lẫn lộn cho các loài chim khác nhau.

    Dân gian gọi bông lau mày trắng đơn giản là bông lau, hoặc bông lau đít vàng, chào mào huyệt vàng, chào mào đít vàng. Nhóm chim bông lau có tên như thế vì bộ lông có màu giống bông cỏ lau.

    Như tên gọi bông lau mày trắng trong điểu học: phía trên mắt có dải rộng trắng kéo dài từ gốc mỏ đến gáy; như tên thông thường bông lau đít vàng: vùng lông dưới đuôi và phần sau bụng màu vàng tươi.

    Mào ngắn và dày, màu nâu nhạt so với đầu trắng. Mặt lưng nâu đất, dọc giữa lông mày thẫm hơn. Cằm và họng trắng. Tai nâu rất nhạt. Mặt bụng trắng, có vệt nâu ngực và hai bên sườn.

    Bông lau mày trắng được tìm thấy trong nhiều môi trường sống mở, gần bìa rừng nơi có nguồn nước hoặc ven bờ biển, nhưng không ở trong rừng sâu. Đây là một trong những loài chim phổ biến nhất tại các khu vực trồng trọt. Cũng hiện diện ở vùng ngoại thành như Quận 2, Thủ Đức, Hốc Môn… và ngay cả nội đô Saigon.

    Thích nghi với con người, thậm chí có thể làm tổ trong vườn cây ăn trái, trụ trồng cây tiêu… Đẻ 2-4 trứng.

    Tổ và trứng bông lau mày trắng (Thú vui Tây Nguyên)

    Tiếng kêu: ríu rít êm dịu, cũng có tiếng chát chúa ‘chwich chwich’:

    https://www.xeno-canto.org/species/Pycnonotus-goiavier

    Loài điểu học: bông lau họng vạch – stripe-throated bulbul, streak-throated bulbul (Pycnonotus finlaysoni)

    Có thể xem bông lau họng vạch là biểu trưng cho hoành hoạch trong dân gian. Điều lạ là cái tên “hoành hoạch” rất phổ biến trong dân gian nhưng ngành điểu học không dùng tên này, lại dùng tên lạ hoắc!

    Thân dài 19-20 cm. Đúng như tên gọi, họng có những vạch màu vàng nghệ trông rất rõ, giúp phân biệt với những loài bông lau khác. Lưng màu ô-liu pha vàng nghệ; bụng từ xám nhạt đến xám đậm; trán, tai, phần ngực trên và đuôi có màu vàng nghệ nhạt hơn họng. Trống mái giống nhau. Chim non: những vùng màu vàng có màu vàng xỉn.

    Sống định cư trên cả nước, ở rừng thường xanh, rừng hỗn giao, rừng cây bụi, ở bìa rừng có các vùng trống trải.

    Hoành hoạch bắt côn trùng mang về tổ mớm cho chim non (Thu vui Tay Nguyen)

    Tiếng kêu có khi nghe như ứng với tên “hoành hoạch”, cũng có tiếng kêu vui tai nhưng không kêu nhiều:

    https://www.xeno-canto.org/species/Pycnonotus-finlaysoni

    Loài điểu học: bông lau tai vằn – streak-eared bulbul (Pycnonotus blanfordi)

    Tôi có ấn tượng với loài bông lau này vì mỗi chiều chúng tề tựu trong tán cây kề bên nhà tôi thuê ở Bangkok, rồi sau này cũng mỗi chiều tôi lại thấy chúng tề tựu trong tán cây trước văn phòng dự án nơi tôi làm việc ở Hội An. Ấn tượng mạnh bởi vì chúng rất ồn ào! Cũng có thể được xem là loài hoành hoạch thứ hai.

    Thân dài 18-20 cm. Như tên gọi, hai bên tai có những đường vằn. Bộ lông không có gì đặc biệt bởi vì quá đơn điệu: chỉ là màu vàng đất sét, bụng nhạt hơn lưng, mặt dưới đuôi phớt vàng.

    Phổ biến từ Trung Bộ đến Nam Bộ ở cao độ thấp.

    Sống ở rừng thay lá, bụi rậm, khu vực canh tác, vườn nhà kể cả ở làng mạc và đô thị. Thường ngủ theo đàn ở cây to trong đô thị, tạo tiếng huyên náo lúc bình minh vừa thức dậy và lúc chiều tối khi trở về chỗ ngủ.

    Tiếng kêu đa dạng: liên tục nhiều âm chát chúa pha lẫn âm trầm, cả đàn có thể gây phiền nhiễu vì tiếng ồn khi đậu trong vườn nhà:

    https://www.xeno-canto.org/species/Pycnonotus-blanfordi

    Bồ câu

    Thành ngữ

    Thóc đâu bồ câu đấy.

    Mắt bồ câu.

    Thơ

    Ngày xưa – Lưu Trọng Lư

    Ngày ngày vào rừng sâu

    Thổi sáo tìm bồ câu

    Chim ngàn trên vai đậu

    Đậu cả mái tóc sầu.

    Người ảo – Trần Bảo Kim Thư

    Em là cô gái ở nơi nao

    Duyên đã bén chưa, mấy tuổi đầu?

    Da trắng, tóc đen, mày lá liễu

    Môi hồng, má thắm, mắt bồ câu

    Tiếng hát ước mơ – Thiết Dương

    Ta nhuộm màu xanh vẽ đất trời

    Có bồ câu trắng liệng muôn nơi

    Ngăn dòng lệ đắng dừng cơn hận

    Dệt đóa môi xinh thắp nụ cười

    Truyện ngắn

    Cô gái làng Sơn Hạ – Ngọc Giao

    Vĩnh nhìn xuống cái quán nước của mẹ con Nhàn. Anh lại nghĩ đến người con gái lành hiền ấy cũng có cặp mắt bồ câu, có cái miệng cười tươi tắn, cái bàn tay, nhất là cái bàn tay, thực là lành hiền như tất cả các nết của cô.

    Từ điển Ba na–Việt ghi chơ-rao là chim sáo. Tuy nhiên, theo những người biết về chim muông thì cho đó là chim bồ chao. (Mà nghe ra âm đọc ‘chơ-rao’ cũng gần với “bồ chao” hơn là “sáo”!). Từ điển Việt–Ba na ghi bồ chao là “bơ-lang”. Từ hai định nghĩa trên, so sánh cụ thể giữa hai loài chim thì thấy: Chim sáo có bộ lông chủ yếu là đen nâu, chân cao, thân hình thon gọn, ít hót liên tục; Chim chơ-rao to con hơn một tí vì có bộ lông hơi xù, màu xam xám với những chấm lốm đốm đen và trắng xám, có tập quán thi nhau la hét liên hồi khi tụ đàn đông đảo. Ở vùng Nam Trung Bộ có câu thành ngữ “Ồn như đám bồ chao!” để nói về một nhóm người nào đó đang kháo chuyện ồn ào náo nhiệt. Bồ chao hay quần tụ ở nơi có ao hồ, đầm lầy hay sông suối giữa rừng già. Người đi rừng nếu cần tìm nguồn nước cứ lắng nghe tiếng chim bồ chao ở đâu thì lần đến đó, thế nào cũng gặp nước. (Được cái, đàn bồ chao luôn thi nhau kêu la inh ỏi nên cũng dễ nghe ngóng được “tín hiệu” có nước ấy!). Người viết bài này vào những năm 1980 theo bạn đi đãi vàng sa khoáng khắp rừng Tây Nguyên cũng đã nhiều lần ứng dụng kinh nghiệm này mà tìm sông suối để đào đãi.

    Truyện ngụ ngôn

    Chuyện của loài chim – Võ Quảng

    Chỉ trong vài hôm mà chim chóc ở khu rừng nằm dọc bên một cái hồ lớn đã về đông đủ. Ca hát xong, các chim thi nhau kể chuyện. Chợt Bồ Chao ập đến. Bồ Chao liến thoắng một hồi:

    – Tôi xin báo một tin mới toanh. Một tin khẩn cấp! Tôi vừa biết là người ta đang dựng hai cái trụ cao, cao đến mây xanh. Chắc là để… chống trời. Nếu để chống trời thì trời có thể sụp. Tôi lo quá! Nếu quả vậy thì tôi phải đưa gấp các cháu đi chỗ khác. Gia đình tôi sơ tán ngay. Việc đó rất cần.

    Thơ

    Mùa buồn – Đặng Ngọc Ngận

    Xuân ánh hồng lơ lửng không gian

    Hoa mai nở xúng xính nàng đào đẹp

    Ánh mặt trời dát vàng ánh thép

    Lũ lượt rộn ràng đầy những vườn chim

    Chú bướm nào đang mắt ngủ lim dim

    Cũng đã được mùa xuân đánh thức

    Con bồ chao khe khẽ hót gọi bầy

    Tất cả thế nhưng sao sầu quá đỗi

    Nghe tiếng chim bồ chao nhớ Nội – Quang Hà

    Phải rồi, chim ấy bồ chao

    Vang vang lên những tiếng chào dễ thương

    Chào tia nắng sớm mai hường

    Chào tôi bước lại con đường tuổi thơ

    Truyện ngắn

    Mùa Xuân nghe tiếng chim – Võ Hồng

    Với đóa hoa nhu mì gần gũi, người mở sách tra chữ và đặt tên. Còn với chim trời, chỉ nhìn thấy dáng xa xa, lại gần thì bay mất: nên thường dựa theo tiếng kêu mà đặt cho một cái tên quấy quá, lấy có: cồng cộc, bồ chao, chèo bẻo, bìm bịp… Cả đến tên bắt cô trói cột. Chỉ với những con chim quý, cưng dưỡng trong lồng mới tầm chương trích cú: hồng yến, hoàng anh…

    Con bồ chao đoạt giải – Khôi Vũ

    Đúng buổi sáng ngày hội thi chim hót hay, con bồ chao của Tám Tùng sổ lồng. Anh Tám buồn ra mặt. Vậy là anh không thể có mặt trong số những người chủ chim dự hội thi. Anh chỉ còn một tia hy vọng mỏng manh cuối cùng: may ra con bồ chao chịu trở lại cái lồng mái nhà rông mà anh nhờ treo trên một nhánh mận, trong có cái hũ đầy trứng kiến. Con bồ chao chẳng bay đâu xa. Nó đậu ngay đầu một nhánh mận cao chót vót, đứng giữa trời nhìn một khoảng không phố xá nội ô vắng bóng cây, trần trụi phơi mình dưới nắng.

    Truyện ngắn

    Đêm Tháp Mười – Lê Văn Thảo

    Vợ chồng tôi nuôi con chẳng khác chi chim bồng bồng ấp trứng, nhiều lúc phải đi lặt từng gương sen, trái súng về giã bột cho con ăn.

    Bút ký

    Có những mùa chim – Lương Thư Trung

    Đổi mùa là làm lại một lần đời nhưng có ai ngờ loài chim chóc lại có những vụ mùa tương lân góp sức thú vị biết dường nào! Loài bồng-bồng thì ít khi làm ổ mà lại đẻ trên ngọn cây cao chót vót. Loài chim này cùng với giống chim le-le có tập quán chung là cả một bầy chẳng cần biết bao nhiêu con, cứ tụ hội là đẻ chung trong một cái ổ trên những ngọn cây cao chót vót. Chỉ có khác là loài le-le thì cùng nhau đạp cỏ lót ổ; trái lại bồng-bồng thì chờ con người lót ổ sẵn và cứ thế rủ nhau từng đàn, từng đàn.

    Nhưng sự đời đâu có đơn giản như vậy. Người ta làm sẵn cái ổ hình tháp công phu và bò lên ngọn cây cao biệt vụt như vậy là cũng có cái ý dụ cho bồng-bồng về đẻ và họ sẽ lượm trứng chim. Và lâu lâu, người gác ổ bồng bồng sẽ trèo lên trút ổ một lần. Trứng thôi là trứng… Vì có đẻ mà không được ấp trứng nên dần dần loại chim này gần như tuyệt chủng trên những vùng quê có mùa nước lụt hằng năm. Họa hoằn lắm mới thấy vài bầy chim bồng-bồng là nhờ chúng còn biết đẻ ở các bộng cây cổ thụ mà không ham tìm kiếm những cái ổ hình tháp thật hấp dẫn ở rải rác nơi các ngọn cây cao lơ lửng lưng trời….

    Loài điểu học: mồng két mày trắng – garganey (Anas querquedula)

    Bồng bồng tức mồng két mày trắng là loài vịt nhỏ, thân dài 37 cm. Đỉnh đầu hơi bằng. Chim trống: Có vạch rộng màu trắng trên đầu; khi bay thấy phần trước cánh có màu xám bạc. Chim mái, chim trống ngoài mùa sinh sản và chim non: có họa tiết trên đầu dễ phân biệt hơn; vạch qua mắt màu sẫm, vạch trên mắt rõ ràng, cổ họng trắng hoàn toàn và thường có một đốm màu xanh nhạt nổi bật ở gốc mỏ.

    Loài di cư phổ biến ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.

    Sống ở vùng đầm lầy, hồ nước, vùng ven biển.

    Loài điểu học: mồng két – common teal (Anas crecca)

    Loài này khác với mồng két mày trắng ở chỗ không có mày trắng, thay vào đó là một vệt rộng màu xanh lục sậm trên đầu màu nâu sậm. Khi đứng yên thấy có nhiều vệt trắng dài dọc trên vai. Con trống có màu lông được xem là đẹp hàng đầu trong số các loài chim.

    Có phân bố hẹp hơn loài trên: chỉ trú đông ở đồng bằng Bắc Bộ và miền Tây. Vì thế ở miền Tây loài này có thể được gọi là bồng bồng,

    Cà kheo

    Bút ký

    Kỹ sư trẻ bỏ Sài Gòn về quê ‘đỡ đẻ’ cho chim, cá – Hoàng Nam

    Khi đến cánh đồng năng, bên kia là rừng tràm bạt ngàn chim muông, Linh Em ra dấu mọi người im lặng rồi bò một đoạn dài qua bờ đất lởm chởm quan sát cái tổ với 4 trứng to có đốm đen của loài chim lạ. Ổ không nằm trên cây như bình thường mà được xây bằng xác lá, thân cây, nổi lên giữa ao nước. Anh nói đã theo dõi tổ chim này mấy ngày nhưng chưa phát hiện con mẹ.

    Hơn 30 phút nhóm người ẩn mình trong rừng cây, cuối cùng con chim mẹ cũng tha mồi về tổ. Linh Em ồ lên một tiếng rồi bảo đó là chim cà kheo, đã gặp chúng bay nhiều lần nhưng chưa thấy đẻ trứng bao giờ.

    “Phải theo dõi mới biết cách chúng đẻ, cách ấp trứng và nuôi con để bảo tồn cho tốt. Chim này nhỏ, hai chân dài mảnh như cây cà kheo nhưng rất thông minh. Khi có nguy hiểm khu vực tổ, nó sẽ dùng kế nghi binh, bay chập chững như bị thương rồi từ từ dụ kẻ địch ra khỏi khu vực con non”, anh chia sẻ.

    Loài điểu học: cà kheo – black-winged tilt (Himantopus himantopus)

    Thuộc Họ Cà kheo (Recurvirostridae) gồm những loài chim có chân rất dài so với kích thước của thân. Từ đặc tính này, trò chơi đi cà kheo được tạo ra bằng cách dùng hai cây sào dài để nâng thân người lên cao. Các loài cà kheo cũng có mỏ dài và mảnh, cùng với chân cao giúp chúng dễ di chuyển trong vùng nước nông và dễ gắp mồi thủy sinh trong nước.

    Cà kheo còn được gọi là chim so đũa, có thân dài 33-36 cm. Đặc điểm nhận biết: Giò và ngón chân màu hồng, phần trên lưng, trên và dưới cánh có màu nâu sậm (gần như đen). Cằm, cổ và thân dưới màu trắng. Mỏ thẳng, dài, rất mảnh và nhọn, màu đen. Sắc thái đầu có nhiều loại. Khi bay có dạng đặc trưng: hai chân duỗi thẳng về sau, đầu và cổ hướng thẳng về trước. Chim non: màu nâu nhạt, có thể nhầm với bộ lông mùa đông của loài choắt nhưng chiều dài và màu sắc của chân là những đặc điểm để phân biệt.

    Phân bố trên cả nước ngoại trừ đồng bằng Bắc Bộ. Sống định cư và làm tổ ở Nam Bộ phổ biến. Gặp vào mùa đông ở các vùng phân bố còn lại nói trên, không phổ biến.

    Sinh cảnh sống: Vùng đầm lầy, bãi bồi ngập triều ven biển và ruộng lúa. Sinh sản từ tháng 5-8. Tổ làm trên mặt đất, đẻ 3-5 trứng.

    Cắt

    Thành ngữ

    Nhanh như cắt / Lẹ như cắt

    Thơ

    Đồi mai vùi kiếm (2a) – Bùi Thanh Kiên

    Lẹ như chim cắt xớt gà

    Lá rơi đầu gió sao sa lưng trời

    Truyện ngắn

    Tìm ngựa – Vũ Hạnh

    Ông Thất lợi dụng bóng tối, đánh ngay một quyền vào bụng dưới gã. Người kia kêu ối một tiếng, ôm ruột, gập người, ông Thất đã nhanh như cắt, nhảy tới ôm vật gã xuống…

    Chuyện kể đêm giao thừa – Nguyễn Quốc Văn

    Con lợn hoảng hồn, chạy quẩn, lao về phía chú. Chỉ chờ có thế, nhanh như cắt, chú Thả nắm ngoéo lấy hai chân sau của con vật, hất nó nằm chỏng trơ trên ổ rạ, trói nghiến lại.

    Loài điểu học: cắt lớn – peregrine falcon (Falco peregrinus)

    Họ Cắt (Falconidea) gồm những loài có thân hình mảnh hơn các loài diều, cánh nhỏ hơn nhưng nhọn hơn, đuôi hẹp nhưng dài hơn. Chúng bay nhanh, và khi bay thì cánh vỗ nhanh, hiếm khi bay vút lên. Chi Cắt (Falco) được dùng để chỉ những loài chim cắt thực thụ. Tuy nhiên, tùy theo kích thước của từng loài cụ thể mà có lúc người ta gọi là ưng, lúc thì là cắt. Chim cắt có cánh mỏng và nhọn, cho phép chúng lao xuống với tốc độ rất cao. Vì thế trong dân gian mới có câu “Nhanh như cắt”.

    Nguyễn Cử et al. (2000) ghi nhận 6 loài cắt ở Việt Nam, riêng cắt lớn là loài tương đối không hiếm như 5 loài kia.

    Chiều dài thân 34-58 cm, là loài cắt lớn nhất ở Việt Nam. Chim mái lớn hơn chim trống 30%, và đây là sự khác biệt lớn nhất trong số chim săn mồi. Cánh nhọn, gốc cánh rộng.

    Cắt lớn là loài chim ăn thịt có sự phân bố rộng nhất trên thế giới, cũng khá phổ biến ở Việt Nam.

    Sống ở khu vực trống trải trong các vùng đất ngập nước và ngập mặn, ven biển. Bình thường bay lượn ngắn, nhưng khi thấy con mồi thì lao đến rất nhanh. Cắt lớn luôn tạo kinh hoàng cho các chim khác trên không trung vì có thể bắt loài chim có kích thước lớn như vịt. Đây là loài chim có tốc độ lao xuống nhanh nhất, đúng nghĩa nhanh như cắt: 322 km/giờ.

    Cặp chim trống mái sống với nhau trọn đời và làm tổ trong hốc, thường trên mép vách đá.

    Loài điểu học: diều trắng – shikra (Elanus caeruleus)

    Một số hình ảnh ghi được ở những cửa hàng bán chim hoang dã mà người ta giới thiệu là “chim cắt” có tên theo điểu học là diều trắng thuộc Họ Ưng (Accipitridae). Họ này gồm những loài chim săn mồi ban ngày, có mỏ cong và khỏe, đại đa số ăn thịt, có kích thước và hình thái đa dạng, riêng chim mái thường to hơn chim trống. Phần lớn các loài có bộ lông kết hợp các màu xám, vàng da bò và nâu; mặt bụng nhạt hơn mặt lưng. Chúng có thị lực rất tinh để săn mồi từ xa. Những loài quen thuộc trong họ này là diều hâu, đại bàng, diều mướp, ó, ưng và kền kền, nhưng kền kền và một ít loài mang tên ó, diều được xếp vào những họ riêng.

    “Chim cắt” được bày bán

    Không có loài cắt nào tương ứng với sắc lông của “chim cắt” được bày bán.

    Thân hình diều trắng cao 30-36 cm. Chim trống: lưng có màu xám bạc dễ phân biệt, bụng có nền nhạt hơn với nhiều vằn nâu đỏ hoặc xám sậm. Khi bay, phần dưới cánh có màu xám bạc với mút cánh màu tối, nếu nhìn từ trên xuống thì lông ở giữa đuôi không có vằn. Chim mái: lưng sẫm hơn. Chim non: lưng màu nâu, mút lông màu nhạt tạo nên hoa văn giống như ngói lợp nhà, bụng màu nâu nhạt.

    Thường lao bổ xuống đất từ chỗ đậu để bắt mồi.

    Đây là loài định cư, phổ biến toàn cõi Việt Nam trừ Tây Bắc, vì thế có một số không ít bị bắt và bày bán ở các chợ chim hoang dã. Có người huấn luyện diều trắng để mang vào rừng tìm tổ ong.

    Sống ở rừng tự nhiên, rừng trồng và chỗ trống trải. Độ cao phân bố lên tới 1.600 mét.

    Chàng nghịch

    Ký sự

    Các giai thoại Nam Kỳ lục tỉnh – Hứa Hoành

    Nhìn kỹ cô gái, tôi đổi giận làm vui. Đây là một cô gái mơn mởn đào tơ, tròn trịa như con chim chàng nghịt, óc cau đầu mùa lúa trổ…

    Hồi ký

    Hồi ký Sơn Nam

    Gần ven sông, ven biển, nhiều gân đất cao ráo, người Hoa kiều từ lâu rồi biết khai thác để trồng nhãn. Dịp tựu trường, tha hồ ăn nhãn, bấy giờ chỉ có loại nhãn lớn hột; thơm tho ngọt ngào, đối với người ở U Minh, xứ không bao giờ thấy cây nhãn. Lại còn các loại chim ở đồng lúa vùng nước ngọt, nay hãy còn như ốc cao, vỏ vẻ, chằng nghịt, cuốc.

    Loài điểu học: chàng nghịch, gà nước vằn – slaty-breasted rail (Gallirallus striatus)

    Còn được gọi bằng những tên khác là chằng nghịch, rẽ đất, rẽ hoa, thuộc Họ Gà nước (Rallidae), gồm nhiều loài sống ở vùng đất ngập nước, đặc biệt thích cây cối rậm rạp. Các loài quen thuộc trong họ này gồm có cuốc, chàng nghịch, gà đồng, sâm cầm, xít (trích, trích cồ).

    Chàng nghịch có mỏ đỏ dài, mắt và chân đen tuyền, mặt lưng nâu thẫm có nhiều vằn lượn sóng trắng; phần dưới lưng và lông cánh sơ cấp có nhiều chấm trắng, mỗi lông đều viền nâu hơi vàng.

    Cỡ trung bình: 27 cm. Đỉnh đầu màu hung và phần trên cơ thể có vằn trắng mảnh. Ngực xám trơn. Chim non: mới nở đen tuyền rất giống cuốc mới nở, dần dà màu xám hơn, mỏ xám sậm, ngực màu nâu nhạt, phần trên có sọc mờ.

    Loài định cư phổ biến ở vùng Tây Bắc, Trung Bộ (trừ Tây Nguyên) và Nam Bộ. Có thể chỉ đi qua vùng Đông Bắc và Bắc Trung Bộ.

    Sống chui lủi ở vùng đầm lầy, ruộng lúa và rừng ngập mặn. Làm tổ trong bụi cỏ, đẻ 2-9 trứng. Gặp đến độ cao khoảng 1.300 mét.

    Chào mào / Chim đội mũ

    Ca dao

    Con chim chích chòe đứng hè bà chủ

    Con chim đội mũ nó đứng đám ông cử ông Hương

    Đôi ta mới ngộ tình thương

    Dù ai đem nhiễu đổi lương cũng đừng.

    Lũy cắm cần câu vào kẽ đá và nằm xuống, lót hai tay sau gáy nhìn lên trời xem những đám mây trắng đuổi nhau bay qua mặt biển, ở chỗ này lũ chim cát dạn dĩ hơn. Chúng không ngại bóng người nên bay đến hàng bầy và đậu chung quanh Lũy. Nếu chúng không bay chắc Lũy với tay ra là bắt hết được chúng. Những con chim cát dễ thương và xinh xắn kia, mi có hiểu cho lòng ta không? Mi có hiểu rằng ta đang buồn? Những con chim cát vẫn hồn nhiên ríu rít.

    Truyện dài

    Đất rừng phương Nam – Đoàn Giỏi

    … Cò thì không biết bao nhiêu mà kể. Cò ngà, cò trắng, cò xanh, cò ma… buộc từng xâu, chất nằm hàng đống.

    Loài điểu học: cò xanh – striated heron, little heron, mangrove heron (Butorides striata)

    Các mô tả trên về chim học trò ứng với loài cò xanh: “loài cò nhỏ, lông phía lưng màu xám”, khi bay “thấy rõ cả cái ức trắng và đôi chân khẳng khiu duỗi dài”.

    Thân cao 44 m. Chim trống: lưng và cánh màu xanh lam pha xám (đôi khi xanh lam pha nâu), bụng trắng. Khi đậu mào thường giương lên. Thường gặp một con. Hay hoạt động vào lúc hoàng hôn. Chim non: lưng nâu, bụng có vằn lớn.

    Loài định cư và di cư. Phổ biến. Phân bố trên mọi miền đất nước.

    Sinh cảnh sống: Suối, hồ, rừng tràm và rừng ngập mặn, bãi lầy ngập triều.

    Loài điểu học: gà lôi nước – pheasant-tailed jacana (Hydrophasianus chirurgus)

    Thuộc Họ Gà lôi nước (Jacanidae).

    Dài 39–58 cm, trong đó đuôi dài khoảng 25 cm. Bộ lông có màu đặc trưng: thân màu chocolat, mặt, họng và cánh trắng, mặt trên cổ màu vàng, đuôi dài màu đen. Có các ngón chân và móng dài, giúp chúng bước trên thảm thực vật trên mặt nước để kiếm ăn. Cũng có thể bơi hoặc bước trên đáy kênh rạch với nửa thân ngập trong nước.

    Chim mái lớn hơn chim trống một chút. Một con mái có thể giao phối với vài con trống trong đàn; các lứa chim non nở ra được những chim trống khác nhau chăm sóc.

    Chim khách

    Thơ

    Nào đâu chim kháchTrinhcamle

    Ngỡ là chim khách nào hay nhìn lầm

    Con chèo bẻo bay đuối tầm

    Lòng tôi trở lại âm thầm mơ xa

    Bài ca sao – Hoàng Phủ Ngọc Tường

    Nơi em về xuân tím nụ vườn chanh

    Hoa xoan tím hoa lục bình cũng tím

    Cành tre nhỏ có ngày chim khách đến

    Tận bây giờ chờ đợi vẫn rưng rưng

    Truyện ngắn

    Cô gái làng Sơn Hạ – Ngọc Giao

    Cụ nhắp từng ngụm nhỏ, chậm rãi:

    – Con em nó đã nói chuyện với tôi về cậu, nó tin chắc rằng hôm nay thể nào cậu cũng sang chơi. Ấy, lúc sáng thấy chim khách hót ngoài bụi tre, tôi đoán ngay là có khách. Thế nào, cụ Tú bên nhà có mạnh không, cụ vẫn làm thơ như thường đấy chứ?

    Bút ký

    Chim khách – Đông Ngàn Đỗ Đức

    Chim khách có bộ lông màu than. Nó hay lần mò vào vườn cây nhặt sâu bọ. Hiếm có giống chim nào thân thiện với con người hơn nó. Chim khách sống gắn bó với dân làng, được coi như người đưa tin đầu tiên khi chưa có ngành bưu điện ra đời. Ai cũng mến con chim có bộ cánh giản dị và giọng hót lào khào đó.

    Thuộc loại mảnh dẻ nhỏ con, tính tình hiền hậu, chim khách thường hay lặng lẽ một mình. Chưa bao giờ thấy chim khách đi đôi.

    Tha thẩn nghiêng ngó tìm sâu, thỉnh thoảng chim khách lại cất tiếng khẹt khẹt nhịp với bước nhảy di chuyển. Mỗi lần nghe tiếng khẹt khẹt thuốc lào, mẹ lại ngóng ra cổng lẩm bẩm: Nhà lại sắp có khách đây.

    Truyện dài

    Bãi gió cồn trăng – Hồ Trường An

    Cửa lúc nào cũng mở sẵn. Cô men theo con đường rải vỏ hến bên hè nhà Bác vật Cảnh. Coi kìa, con chim khách đậu trên cành cây bông công chúa hót lăng líu một tràng dài.

    Bến không chồng – Dương Hướng

    Còn cái giống chim khách nó kêu thì rõ là điều mừng. Sáng hôm ấy tao dậy sớm để đi chợ Quài mua khoai, ra tới bể nước đã nghe tiếng chuột rúc. Khi quẩy gánh ra đến ngõ tao nghe trên nóc từ đường chim khách kêu “khách khách”. Đến chiều vừa quẩy gánh khoai về tới đầu ngõ tao đã nhìn thấy chị cả chạy ra reo “Bố về rồi! Mẹ ơi, bố về rồi”. Bố mày về cùng với chú Hinh chú Dược.

    Loài điểu học: chim khách – racquet-tailed treepie (Crypsirina temia)

    Chim khách thuộc Họ Quạ (Corvidae). Những loài quen thuộc trong họ này gồm ác là, giẻ, quạ đen, quạ khoang..

    Định cư trên toàn cõi Việt Nam, số lượng không nhiều nhưng có thể gặp ở nhiều nơi.

    Chim khách kiếm ăn và làm tổ ở rừng trên các độ cao khác nhau từ 50-1000m. Có thể gặp ở bìa rừng hay trong rừng sâu kể cả rừng ngập mặn, cũng hiện diện ở cánh đồng, bụi tre và vườn nông thông. Thường gặp 1-2 con kiếm ăn ở tầng thấp cách mặt đất từ 5-6m trong đàn hỗn hợp với một số loài khác, ít khi xuống mặt đất. Chúng thường bị chim chèo bẻo tấn công.

    Làm tổ trong bụi rậm hoặc tán lá dầy, đặc biệt giữa những cây có gai. Đẻ 2-4 trứng.

    Hình ảnh và tiếng kêu:

    https://www.birdwatchingvietnam.net/bird/racket-tailed-treepie-389

    Loài điểu học: chim khách đuôi cờ – ratchet-tailed treepie, notch-tailed treepie (Temnurus temnurus)

    Không thể nhầm lẫn: đuôi dài với những lông đuôi tua tủa hai bên giống giải cờ đúng theo tên tiếng Việt, hoặc giống răng bánh cóc đúng theo tên tiếng Anh.

    Phân bố hẹp hơn chim khách, định cư từ Bắc Bộ đến Trung Bộ.

    Chim lam

    Truyện ngắn

    Con chim lam về rừng – Phan Đức Lộc

    Mỗi ngày trôi qua với Hượu là một cơn địa chấn. Trong giấc chiêm bao ngắt quãng bởi ngột ngạt mùi xăng máy cưa, cậu ám ảnh bởi hình ảnh một con chim lam non lạc mẹ chập choạng bay giữa vạt rừng trọc lốc đá sỏi. Con chim ấy sẽ chết yểu hay sống tiếp? Hượu không rõ. Cậu mấy khi được ngủ trọn giấc để chứng kiến cái kết của nó đâu. Có thể con chim ấy là hiện thân kiếp trước của cậu. Hượu luôn tin như thế. Vậy đấy, kiếp trước là con chim lam non lạc mẹ, nên kiếp này dù đã được làm người, cậu vẫn yêu rừng. Ngoài ra, không có một nguyên do nào khác cắt nghĩa được tình yêu đó.

    Loài điểu học: chim lam – Asian fairy-bluebird (Irena puella)

    Thân dài 25-27 cm. Chim trống: cánh, đầu, bụng và phần cuối của đuôi màu lam rất đậm (gần như đen) sáng bóng, dưới ánh nắng, lưng và phần đầu của đuôi xanh da trời, mắt đỏ rực. Chim mái: nói chung màu xanh cẩm thạch xỉn, đuôi sậm hơn.

    Loài định cư ở Việt Nam ngoại trừ đồng bằng Sông Hồng và Nam Bộ.

    Sống trong rừng các loại. Làm tổ hình cái chén, đẻ 2-3 trứng.

    Chim nghệ / Hít cô

    Chim hít cô là tên dân gian được nêu trong bài vè ở đầu bài này:

    Chạy theo không kịp, là chim hít cô

    Cũng trang web đó cho chỉ dẫn như sau:

    Chim hít cô: Còn gọi là chim huýt cô, chim vàng nghệ, hoặc chim nghệ ngực vàng, là một loài chim có ngực màu vàng củ nghệ, cánh có sọc xanh và trắng. Gọi là chim huýt cô vì tiếng kêu của chúng.

    Ca dao

    Chim hít cô đậu dây bình bát

    Bươm bướm bà đậu cột chùa Ông

    Thơ

    Cỏ bồng – Trần Huiền Ân

    chiền chiện bay… bay là là đây đó

    con chìa vôi chót vót ngọn tre non

    đôi chim nghệ say sưa lời gởi gió

    lũ chào mào đỏm dáng chiếc đuôi son

    Nỗi đau cồn cào – Huỳnh Ngọc Anh Kiệt

    Huýt cô lạc bạn gọi bầy

    Chia ly nhớ mãi tháng ngày bên nhau

    Loài điểu học: chim nghệ, nghệ ngực vàng – common iora (Aegithina tiphia)

    Có những tên trong dân gian là vàng nghệ, hít cô, huýt cô, sâu rằn, chim nghệ dạng sẻ thuộc Họ Chim nghệ (Aegithinidae).

    Tên gọi của loài này là do màu vàng củ nghệ của chim trống. Mỏ nhọn, màu xám đậm với đường sống mỏ thẳng. Chim trống: đỉnh đầu và lưng màu đen, cánh có màu xanh ô-liu đậm với hai vạch trắng to (đặc biệt trong mùa sinh sản), đuôi đen. Chim mái: cánh màu xanh lá với hai vạch trắng nhỏ hơn, đuôi màu xanh ô-liu.

    Sống ở rừng thưa và cây bụi phổ biến toàn cõi Việt Nam, nhưng cũng thích nghi với môi trường đô thị vì khá dạn dĩ với người.

    Thường làm tổ có hình chén nhỏ ở chạc ba của cành cây, tổ làm từ những nhánh cỏ khô được kết lại bằng mạng nhện.

    Mùa sinh sản của chim nghệ thường diễn ra sau khi kết thúc các đợt gió mùa. Những con chim trống trong thời kỳ này thường xuyên thể hiện những hành vi tán tỉnh rất thú vị như là lộn nhào hoặc bay vút đi như tên bắn trong không trung, đặc biệt phần mông của chúng sẽ trở thành màu xanh lá cây nhạt, khi hạ cánh chúng thường xòe rộng những chiếc lông đuôi kết hợp với đôi cánh rủ xuống, trông như đang múa.

    Chim mái đẻ 2-4 trứng mỗi lứa. Cả chim bố và chim mẹ cùng tham gia ấp trứng. Thường bị chim tu hú, chim vịt “đẻ nhờ” vào tổ để chim non nở ra sống ký sinh trong tổ.

    Tiếng kêu: chuỗi 2 âm ‘chít chít’ hoặc ‘huýt hu’, chuỗi 3 âm ‘huýt huýt huýt’ đến 8 âm ‘huýt huýt huýt huýt huýt huýt huýt hồ’, hoặc chuỗi ríu rít nhiều âm điệu:

    https://www.xeno-canto.org/species/Aegithina-tiphia

    Chim sâu / Ốc mít

    Thơ

    Bốn cái hôn – Đông Hồ

    Em nhớ: một buổi trưa mùa hạ

    Buổi trưa nặng nề, trời oi ả

    Tựa cửa lớp học, em rầu rầu

    Nghe tiếng ríu rít đàn chim sâu

    Vườn nhà – Hoàng Nhạn

    Tiếng sẻ nhà dí dách

    Lách chách lũ chim sâu

    Lũ chào mào í ới

    Gù gù tiếng bồ câu

    Truyện ngắn

    Giàn bầu trước ngõ – Nguyễn Ngọc Tư

    Chiều chiều, tôi ra giàn bầu xanh rượi, mơ màng nghe con ong vò vẽ trên từng phiến lá, chớp mắt nhìn chim sâu lích rích chuyển cành, chuồn chuồn rồi bướm rồi hoa thi nhau nở chấp chới.

    Truyện dài

    Tới một tuổi nào – Từ Kế Tường

    Hai đứa đi tới gốc mận bên hông nhà. Ðây là cây mận dòi, nghe nói mẹ trồng hai cây mận sát nhau để kỷ niệm ngày cưới của ba mẹ, lớn lên hai cây mận ngả đầu vào nhau, tàn lá xum xuê, trái trĩu cành khó phân biệt cây nào nhiều trái hơn, do đó nó có tên là cây mận dòi. Khuyên thường ngồi dưới gốc mận hồng mát và nghe những con chim sâu líu lo gọi nhau, và dĩ nhiên với lồng móc và chén muối đặt sẵn ở dưới chân.

    Trên ngọn gió bấc – Từ Kế Tường

    Chim phóng sinh – Nguyễn Hồ

    Hai cánh tay khỏe mạnh của Trai lăn cật lực, hai bánh xe nhỏ xíu lên dốc, vượt qua hết thảy đất đá, ổ gà, ổ voi chướng ngại. Trên xe là ba chiếc lồng kẽm đầy ắp chim sâu, chim sẻ, chim sắt líu ríu, hấp dẫn những người thích phóng sinh chim.

    Ký sự

    Chim sâu lưng đỏ – Võ Thị Phương Thanh

    Chim trống khoác “áo đỏ” lộng lẫy như vậy nhưng thiên nhiên lại hẹp hòi ban cho nàng chim mái chiếc “áo cánh” ngắn củn với một chút màu đỏ nhạt…

    Khi nàng đồng ý nhận lời thì cả hai cùng xây tổ ấm, cùng chăm sóc con cái. Tổ được lót bằng bông gòn mềm mại, ấm áp để lũ con sống sót qua mùa mưa dai dẳng của miền nhiệt đới.

    Mình có cảm xúc rất mạnh mẽ với loài chim này vì nó gắn liền với kỷ niệm ngày thơ. Chiều nay tìm thấy ảnh của chúng, mình vui như được về với ngày xưa… Cũng khoảng tháng 5, trời bắt đầu vào mùa mưa, loài chim này tìm bạn tình, xây tổ, sinh con. Mình rất thích vũ điệu tỏ tình của chim trống nên hay lẻn đi quan sát chúng. Loài này rất nhanh nhẹn, liến thoắng và rất nhát, thấy bóng người là bay mất…

    Chuyện Sài Gòn từ những chú chim non gặp nạn – Trung Thanh

    Làm nghề sửa ô tô nhưng hơn 30 năm qua, anh Nhựt dành rất nhiều thời gian để săn ảnh chim ở chúng tôi và đã chụp được hàng ngàn bức ảnh đẹp. Nhờ những bức hình của anh mà tôi mới biết, phía sau những khu phố tấp nập trên đường Lê Văn Khương (đoạn thuộc H. Hóc Môn) cũng có một cánh đồng cò bay về nườm nượp chẳng khác nào ở Tràm Chim (H. Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp); hay ở H. Nhà Bè, H. Cần Giờ cũng có những con chim rồng rộc vàng, chim gõ kiến, chim ốc mít… có màu sắc tuyệt đẹp.

    Loài điểu học: chim sâu lưng đỏ – scarlet-backed flowerpecker (Dicaeum cruentatum)

    Tên “ốc mít” trong dân gian chỉ loài chim sâu lưng đỏ thuộc Họ Chim sâu (Dicaeidae). Họ này gồm các loài chim mập mạp, với mỏ, cổ và chân đều ngắn, có kích thước 10-18 cm, cân nặng 6-12 gam, thường có bộ lông xỉn màu, thích ăn mật hoa, quả mọng và đôi khi côn trùng.

    Chim sâu lưng đỏ là loài chim sâu có sự phân bố rộng nhất trong số các loài cùng họ. Thân rất nhỏ, chỉ 9 cm. Chim trống: không thể nhầm lẫn với lưng màu xanh lam thẫm có một vạch rộng màu đỏ tươi chạy dài từ trán đến gốc đuôi. Chim mái: bộ lông màu ô-liu, có khoảnh nhỏ màu đỏ thẫm ở hông hoặc dưới gốc đuôi xám sậm. Chim non: Không có màu đỏ thẫm nhưng mỏ màu da cam tươi.

    Loài chim định cư, phổ biến từ vùng Đông Bắc đến hết Nam Bộ (riêng vùng phía Nam của Trung Trung Bộ chưa tìm thấy), lên đến độ cao khoảng 1.200 mét. Gặp ở rừng thưa, rừng trồng, cây bụi, chủ yếu ở bìa rừng, cũng có thể ở đất trồng trọt, công viên thành phố. Cũng được quan sát kiếm ăn và hót líu lo trên tán cây thấp trong nội thành Saigon.

    Tôi thường chiêm ngưỡng những chú chim sâu lưng đỏ trong một khu dân cư ở Bangkok. Không ai quấy rầy chúng, có lẽ vì thế mà các chú chim ở đây khá dạn dĩ, cho phép tôi quan sát chỉ cách dăm ba mét. Ngược lại, Võ Thị Phương Thanh (2012) cho biết các chú chim sâu lưng đỏ ở Việt Nam rất nhát. Lý do dễ hiểu thôi: chim trống là đối tượng bị săn bắt ráo riết do có bộ lông đẹp! E rằng một ngày không xa, ta chỉ có thể quan sát con chim đẹp này ở các cơ sở rao bán chim!

    Loài điểu học: chim sâu mỏ lớn – thick-billed flowerpecker (Dicaeum agile)

    Rất nhỏ, thân chỉ dài 10 cm. Mỏ dầy, đuôi ngắn. Bộ lông có màu đơn giản: lưng màu nâu-xám đậm, bụng trắng xỉn (có khi phớt vàng) với nhiều vằn mờ màu xám chạy dọc. Khi đậu, đuôi lúc lắc qua lại. Không thể phân biệt trống mái ngoài hoang dã.

    Loại định cư phổ biến từ Trung Bộ đến Nam Bộ.

    Tổ hình chén được treo chúc ngược từ cành cây mảnh nằm ngang. Cả cặp trống mái đều giúp nhau làm tổ. Đẻ 2-4 trứng.

    Chim sâu mỏ lớn mớm mồi cho chim non (Thú vui Tây Nguyên)

    Tiếng kêu: ‘chiu chít’ thanh thanh:

    https://www.xeno-canto.org/species/Dicaeum-agile

    Ghi chú: một số trang web viết về “chim sâu” nhưng hình ảnh cho thấy đó là chích bông. Xem mục Chích / Chích bông / Chim thợ may. Không loại trừ các văn nhân thi sĩ viết về “chim sâu” nhưng thật ra đó là chích bông vốn phân bố rộng rãi hơn là chim sâu.

    Chim vịt / Chim lò rèn

    Ca dao

    Chiều chiều chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau.

    Thơ

    Chim vịt kêu chiều – Lý Thị Minh Châu

    Chiều chiều chim vịt kêu chiều

    Thương mây nhớ gió hay yêu lỡ làng

    Dẫu là hợp để rồi tan

    Chẳng trăm năm cũng huy hoàng hơn không

    Tìm đâu để gặp ngày xưa

    Đầm sâu vũng cạn ao hồ cũng không

    Phố giờ mọc cả trên sông

    Trách chi chim vịt sao không gọi chiều.

    Truyện ngắn

    Mùa Xuân nghe tiếng chim – Võ Hồng

    Vào một buổi sáng có nắng rực rỡ, trong vườn tôi chợt vang lên tiếng một con chim lạ. Thời tiết đầu xuân và lúc đó vào chặng tám giờ. Khu phố tôi ở tương đối yên tĩnh nên tiếng chim không bị pha lẫn vào một thứ tạp âm nào. Nó mạnh, sắc cạnh, lảnh lót. Chỉ gồm bảy tiếng ‘Kéc… kéc… kéc… kéc kéc… kéc kéc.’ Ba tiếng đầu ngắt quãng chậm rãi, trịnh trọng. Bốn tiếng sau thúc mau, nhỏ dần rồi hòa mất vào sự im lặng.

    Sau chừng năm bảy phút, chim lại cất lên một tràng bảy tiếng như vậy nữa. Nhưng lần này chim không còn ở vị trí cũ, nó đã di chuyển cách đó khoảng năm sáu thước. Tôi đi lại cửa sổ, đưa mắt nhìn ra vườn, chăm chú nhìn nơi xuất phát tiếng chim nhưng tuyệt nhiên không thấy nó đứng nơi nào.

    Một ông bạn nghe tôi mô tả tiếng chim liền nói: “Người Pháp đặt tên nó là chim mồ côi (l’orphelin) vì tiếng kêu buồn khắc khoải gồm bảy âm rời mà họ diễn ra là tiếng kêu than: ‘Cha, mẹ, anh, chị, chết cả rồi’ (père, mère, frères, soeurs, tout est perdu)

    Tiếng chim buổi sớm – Huy Phương

    Nhà văn Lâm Ngữ Ðường thì thích nghe tiếng kêu của một loại “gà gô” (tiếng Tàu còn gọi là “giá cô”). Nói là giống gà nhưng nó hót như chim. Tiếng hót có bốn âm do, ré, mi… âm mi kéo dài hai ba nốt, ngưng hẳn một tí, rồi tiếp theo bằng một nốt thấp hơn. Giống chim này có nhiều ở phía Nam Trung Quốc, hót trễ vì đây là một giống chim dạn dĩ, không sợ giàn thun bọn trẻ, trái lại hầu hết loại chim khác đều hót sớm vì sợ loài người ác độc. Có khi chúng bặt tiếng luôn vì lưới bẫy giăng khắp nơi, vì lưới chim đem ra chợ bán là một nghề mới kiếm cơm.

    Tiếng hót của giống gà gô này có ba âm và âm cuối kéo dài, có người nghe là ‘chè, xôi, chuối… thịt’, âm thịt kéo dài ra, thấp xuống rồi ngưng bặt (theo Nguyễn Hiến Lê). Nghe giống như ý nghĩ mấy ông xôi thịt làng xã ngày trước và ngay cả hôm nay. Giống chim này ở Việt Nam cũng có, thời Tây thuộc tôi có nghe người ta nhại tiếng chim là ‘père, mère, frère… tout est perdue’ (cha mẹ anh em… mất cả rồi). Nghe ra ngậm ngùi làm sao…

    Thơ

    Buổi sáng – Nguyên Đỗ

    Chim xanh, này chim xanh

    Bay về vùng nắng ấm

    Đậu trong vườn hoa gấm

    Ngươi thay ta dỗ dành

    Con chim chích chòe ấy, nó đã làm hỏng buổi sáng của tôi bằng tiếng hót, bằng điệu nhảy tuyệt vời của nó. Bởi nó nhắc tôi nghĩ tới thân phận thị dân, với những nỗi khát khao chật chội đã trở thành thói quen. Con chim chích chòe than ấy vẫn đứng trên thành chậu nhìn tôi bằng cái nhìn đầy giễu cợt của một kẻ trải đời, giống như tôi nhìn nó và lập tức nhận ra nó là một con chim thành phố.

    Loài điểu học: chích chòe, chích chòe than – Oriental magpie-robin (Copsychus saularis)

    Theo nghĩa rộng, chích chòe là tên gọi chung một số loài chim kích thước trung bình trong các chi Copsychus và Enicurus, thuộc Họ Đớp ruồi (Muscicapidae). Họ này gồm những loài chim nhỏ, bắt côn trùng khi đang bay, như tên gọi của họ.

    Theo nghĩa hẹp, dân gian thường gọi chích chòe than với tên đơn giản chích chòe, và ngành điểu học cũng dùng tên này.

    Chích chòe có thân dài 19 cm, kể cả đuôi dài thường hay dựng thẳng̣. Chim trống: lưng, đầu và cổ họng có màu đen (dưới ánh nắng thấy pha ánh xanh lam); vai, bụng và mặt dưới đuôi màu trắng. Chim mái: xám đen trên lưng, xám trắng ở bụng. Chim non: màu nâu xếp như vảy trên lưng và đầu.

    Loài định cư phổ biến toàn cõi Việt Nam.

    Sống từ cao độ thấp ở đồng bằng lên đến vùng trung du và miền núi. Thích kiếm ăn ở nơi thoáng đãng, nhất là trên thảm cỏ xanh. Còn gặp ở rừng ngập mặn. Cũng thích ứng với môi trường đô thị, gặp trong nội đô Saigon (hay là chim nuôi sổ lồng?).

    Trong mùa giao phối, chim trống đậu trên cây cao mà hót với nhiều giai điệu.

    Vì có tiếng hót hay, chích chòe là một trong các loài chim cảnh được yêu thích, do đó bị săn bắt khá nhiều.

    Chích chòe lửa

    Truyện ngắn

    Nhạc chim – Ma Văn Kháng

    Thú vị thật vì nằm bất động trong tâm thái tĩnh tại dưới bóng rừng già, lắng tai nghe một chút, ông Biền vẫn nhận ra, từng tiếng hót riêng biệt của mỗi loài chim. Líu lo ỏm tỏi trên vòm trám rậm kia là tiếng bầy sáo mỏ vàng đông cả trăm con. Trong khi đó, vót cao lên lanh lảnh là tiếng hót của bầy chích chòe lửa đuôi xòe như con công mái.

    Loài điểu học: chích chòe lửa – white-rumped sharma (Copsychus malabaricus)

    Như tên gọi tiếng Anh, có điểm đặc biệt là khoảnh lông trắng trên phao câu. Chim trống 28 cm, chim mái 22 cm. Chim trống: Đầu, họng, ngực trên và phần trên cơ thể màu đen; hông màu trắng; lông bao trên đuôi, các lông đuôi ngoài và phần dưới cơ thể màu nâu vàng tối. Chim mái: Giống như chim đực nhưng màu hơi xám; màu đen ở chim đực thay bằng màu xám ở chim cái; bụng và lông bao dưới đuôi nâu hung. Chim non: Giống như chim mái nhưng màu xám thay cho màu nâu; lông bao cánh và vai nâu đỏ nhạt.

    Chim mái xây tổ một mình; chim trống đứng bảo vệ. Tổ thường làm bằng rễ cây, lá cây, dương xỉ và thân cây. Cả chim bố và chim mẹ nuôi chim con, nhưng chỉ chim mẹ ấp trứng và úm con non.

    Loài định cư phổ biến toàn cõi Việt Nam, nhưng bị săn bắt mạnh.

    Nơi sống: Dưới tán rừng thường xanh nguyên sinh hoặc thứ sinh, và nơi có cây bụi rậm rạp.

    Chìa vôi

    Ca dao

    Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc

    Cá bãi trầu lặn tuốt mương sâu!

    Thơ

    Bức tranh quê – Mai Thanh Ngọc

    Tôi về thăm quê hương Nội Ngoại

    Mỗi bức tranh quê, mỗi nét riêng mình

    Ruộng mạ dài như thảm cỏ nhung xanh

    Gió hát vu vơ đẩy lúa nghiêng mình.

    Con nghé nhỏ chờ mẹ bừa trên ruộng

    Dưới bóng tre nghiêng mát rợp oi hè

    Con chìa vôi làm xao động bờ tre

    Giọng lảnh lói nhạc đồng quê thơ mộng

    Hoa 10 giờ – Dung Nguyên

    Nắng vàng rọi đến nửa sân

    Chìa vôi ngưng cất tiếng ngân sau vườn

    Mười giờ nở tím bờ tường

    Em soạn cặp vở tới trường cho mau

    Qua mấy ngõ hoa – Mường Mán

    Chim chìa vôi chuyền cành múa hát

    Trên hư không ve cưới mùa Hè

    O có nghe suốt dọc đường về

    Sỏi đá gọi tên người yêu dấu?

    Truyện ngắn

    Bầy chim chìa vôi – Nguyễn Quang Thiều

    Có lẽ bố chúng nó nói đúng. Chỉ ở khúc sông làng chúng, những con chim chìa vôi mới làm tổ như thế. Hàng năm vào mùa nước cạn, giữa sông làng nổi lên một dải cát. Sau một thời gian, những đám rong sông tốt bời bời héo dần làm thành một lớp đệm trên cát. Vào lúc đó, những con chim chìa vôi mảnh khảnh và ít lời từ hai bờ sông bay ra bãi cát. Chúng tìm những đám rong khô và dày để đẻ trứng. Khi những con chim chìa vôi đã đủ lông cánh cũng là lúc có những đám mây lạ từ dãy núi đá vôi Hoà Bình bay về báo hiệu mùa mưa. Những tiếng sấm sau mỗi đêm lại chuyển dần từ một chân trời xa về bên kia sông. Và bất chợt một đêm nào gần sáng, sấm nổ vang trên nóc nhà và mưa ném xuống. Con sông Đáy cựa mình lớn lên. Chỉ sau dăm đêm, dải cát nổi giữa sông chìm vào trong nước đỏ. Khi vòng vây của nước ập vào phần cuối cùng của bãi cát thì những con chim chìa vôi non lần đầu tiên trong đời đập cánh bay lên. Những con chim bé bỏng bứt khỏi dòng nước khổng lồ bay vào bờ. Và đến mùa khô sang năm chúng lại ra dải cát nổi bắt đầu mùa sinh nở của chúng.

    Nguyệt quế – Nguyễn Ngọc Tuyết

    Chị nhìn chiếc lồng trên tay anh, giả vờ hỏi:

    – Anh làm lồng chim à?

    – Ừ, có mấy đứa nhỏ trong xóm mê chim chìa vôi lắm. Hôm trước gác được mấy con bán cho chúng, giờ chúng đòi mua thêm lồng.

    Chị gật đầu, có vẻ quan tâm tuy chị biết thừa những điều này rồi. Cái nghề chơi chim, gác chim của ông chồng chị thì nổi tiếng cả xứ này chứ đâu phải vùng quê nhỏ bé này. Đến giờ, thỉnh thoảng cũng có người tìm đến anh để tìm hiểu về cách nuôi chim cu gáy, chim chìa vôi, trao trảo hoặc cách gác lục, gác lưới bắt chim, chọn chim hay chim dở đó thôi…

    Truyện dài

    Tuấn, chàng trai đất Việt – Nguyễn Vỹ

    Tuấn đang học lại bài, nằm trên chiếc chiếu trải ngoài vườn, bên gốc cây mít. Lá mít rụng đầy chung quanh, lá úa đỏ. Trời vừa chạng vạng. Một con chim chìa vôi bay đậu trên sân, nhẩy hai ba bước, đuôi dựng lên, y như chiếc chìa vôi cắm trong miệng bình vôi.

    Loài điểu học: chìa vôi trắng – white wagtail (Motacilla alba)

    Ở Việt Nam có năm loài chìa vôi, nhưng khi nói đến tên chìa vôi thì phần lớn đó là chìa vôi trắng.

    Thân dài 19 cm. Nhìn chung có màu xám bút chì; đỉnh đầu, ức và đuôi màu đen, giữa bụng và ngực màu trắng. Khi đậu, đuôi hay vẩy lên xuống dúng như tên tiếng Anh wagtail. Khi bay, thấy hai màu trắng và đen trên bộ lông bằng nhau. Về mùa đông, màu lông ít đen hơn và phía dưới cơ thể thường có màu xám. Chim mái: lưng màu xám. Chim non: phần trên cơ thể và một dải trước ngực hẹp màu nâu.

    Gặp phổ biến khắp các vùng trong cả nước. Di cư đến vào mùa đông. Có thể có chủng quần làm tổ ở Bắc Bộ.

    Sống ở đồng ruộng, ven đường, chỗ trống trải và nơi gần nguồn nước.

    Choi choi

    Thành ngữ

    Nhảy như con choi choi / Nhảy choi choi.

    Thơ

    Bây giờ mà vẫn ngày xưa – Phạm Ngọc Vĩnh

    Mùa đông xác cỏ khô ngòi

    Sương sa gió táp choi choi há mồm

    Ngáo gà mấy cậu gầy nhom

    Dạng chân hun chuột cúi nhòm miệng hang

    Truyện ngắn

    Rồi thì người ở một mình – Tô Hoài

    Những người xách xâu chim túm tụm lại một nơi. Năm trước, tôi thường trông thấy mỗi chiều chủ nhật có ông đi xe máy vai đeo súng săn phóng xe từ các vùng đầm nước ở Suối Hai, ở Đại Lải về: buộc đằng trước xe những xâu chim bắn được, nào con le, con mòng, nào vịt trời, sâm cầm. Đấy là những ông đi chơi săn chim và “cải thiện” đôi chút. Nhưng bây giờ trông những người đi bán xâu chim thì thiểu não, vất vả nhiều. Chiếc xe đạp méo mó và cả người như vùi trong bùn lên. Họ vắt trước ghi đông những xâu chim chết, thôi thì chào mào, sáo đá, cả con choi choi bé tí tẹo.

    Xóm trọ – Tống Phú Sa

    Thế là khẩu chiến. Hết giọng khào đục của chị chàng luôn tô môi đỏ choét, đến giọng kim the thé của người phụ nữ không chồng ở cuối dãy nhà. Tất cả đều nhảy lên choi choi “Đây mà tôm tép thì ngữ nhà chị là sâu, là bọ…Đồ giời đánh. Về, chúng mày về hết cho bà. Đừng có bén gót đi qua cửa nhà bà. Bà cấm. Bà giết…”

    Một quan niệm tình yêu – Chu Lai

    – Hoan hô! Hoan hô! Đây là một trò xiếc chứ không phải là lái nữa – Anh lái râu ria nhảy choi choi lên như một đứa trẻ – nửa đời người qua lại đường này, đây là lần đầu tiên gặp một tay lái thần sầu.

    Loài điểu học: choi choi nhỏ, choi choi sông – little ringed plover (Charadrius dubius)

    Nguyễn Cử et al. (2000) ghi nhận 5 loài choi choi ở Việt Nam, có bộ lông trông tương tự nhau và khó cho ta phân biệt ngoài hoang dã bởi vì chúng thường… nhảy choi choi.

    Ở đây chỉ giới thiệu một cách biểu trưng loài cho choi nhỏ vì lẽ loài này đến trú đông khá phổ biến toàn cõi Việt Nam. Độ cao phân bố lên đến gần 1.500 mét.

    Choi choi nhỏ có thân dài 16cm. Khác với các loài choi choi tương tự khác bởi khi bay không thấy vằn trắng ở cánh. Bộ lông có vòng cổ màu trắng, đây là đặc điểm dễ phân biệt.

    Thời kỳ sinh sản: Vòng cổ quanh họng đen hoàn toàn; mặt màu đen với mảng trắng ở giữa trán và một đường trắng phía trên vùng lông đen ở đỉnh đầu; mỏ thường có màu đen; chân có màu hồng nhạt và vành mắt có màu vàng sang. Ngoài mùa sinh sản: Những vùng màu đen được thay bằng màu nâu và phần ngực có màu nâu nhạt. Chim non: Giống chim ở ngoài mùa sinh sản nhưng có nhiều vạch màu vàng sẫm ở phía lưng, đầu có nhiều đốm mờ, giò vàng nhạt.

    Sinh cảnh sống: Ven sông lớn, hồ, vùng xình lầy, ruộng lúa và các vùng đất ngập nước ven biển.

    Cò / Cò trắng

    Thành ngữ

    Cò bay thẳng cánh

    Khỉ ho cò gáy

    Câu đố

    Không dấu trời rét nằm cong

    Thêm huyền bay lả trên đồng quê ta

    Thêm hỏi xanh tươi mượt mà

    Trâu bò vui gặm nhẩn nha từng đàn

    – Là ba chữ gì?

    Giải đáp: co – cò – cỏ

    Ca dao

    Uổng công xúc tép nuôi cò

    cò ăn cò lớn cò dò lên cây

    hoặc:

    Công anh xúc tép nuôi cò

    cò ăn cho lớn, cò dò cò đi

    Con cò mà đi ăn đêm

    Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao…

    Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non…

    Cái cò đi đón cơn mưa

    Tối tăm mù mịt ai đưa cò về?

    Cò về thăm quán cùng quê

    Thăm cha thăm mẹ cò về thăm anh

    Cái cò lặn lội bờ ao

    Ăn sung thì chát, ăn đào thì chua

    Ngày ngày ra đứng cửa chùa

    Trông lên Hà Nội thấy vua đúc tiền

    Thơ

    Con cò – Chế Lan Viên

    Con còn bế trên tay

    Con chưa biết con cò

    Nhưng trong lời mẹ hát

    Có cánh cò đang bay

    Chiều nhớ quê – Lãng Tử Hào Hoa

    Hoàng hôn xuống nơi này đẹp lắm

    Ráng mây chiều tím thẫm trời cao

    Nhìn đàn cò trắng chênh chao

    Bỗng nhiên thấy nhớ dạt dào miền quê

    Chiều quê – Tác giả: Hắc Diện Thần

    Gió từ đâu… thổi ngọt lành

    Mạ non như sóng lật vành nón quê

    Lũy tre nghiêng xuống bờ đê

    Thương đàn cò trắng bay về vườn xưa

    Đôi cánh nhỏ – Kiem Ka

    Mưa tháng sáu giọt rơi lả chả

    Rũ cánh cò chao ngã chao nghiêng

    Dáng cò trắng tuyết mây thiên

    Thương anh nắng ngã mưa nghiêng dãi dầu

    Dân ca

    Điệu cò lả là một trong những làn điệu dân ca và hát ru đồng bằng Bắc Bộ, bắt nguồn từ ca dao.

    Trước đây, điệu cò lả được hát bởi những người nông dân sống ở nông thôn, nhưng ngày nay được nhiều nghệ sĩ biểu diễn chuyên nghiệp trên sân khấu với sự biến đổi khác nhau về ngôn từ. Bất cứ câu lục bát nào cũng có thể ghép vào để hát theo điệu cò lả.

    Lời nguyên thủy:

    Con cò cò bay lả lả bay la

    Bay từ từ cửa phủ bay ra ra cánh đồng

    Tình tính tang tang tính tình

    Anh chàng rằng hỡi anh chàng ơi

    Rằng có biết, biết hay không?

    Rằng có nhớ, nhớ hay không?

    Cò lả – Hiền Thảo, NSUT Kim Liên, Thanh Hoài:

    https://nhacdanca.net/co-la-7.html

    Âm nhạc

    Trở về Huế – Văn Phụng

    Ngọc Hạ – https://www.youtube.com/watch?v=LVwbsGb_L5A

    Ôi bao năm xa cách quê hương

    Tình hoài hương tha thiết vấn vương

    Trở về đây vui với quê xưa bao niềm thương

    Nghe đâu đây ai hát đôi câu

    Nhịp chèo lướt khua nước sông sâu

    Ðàn cò xưa nay đã lên mau

    Nhớ khi nào còn xanh mái đầu

    Giấc mơ trưa – Giáng Son

    Khánh Linh – https://nhac.vn/bai-hat/giac-mo-trua-khanh-linh-so994GE

    Em nằm em nhớ

    Một ngày trong veo

    Một mùa nghiêng nghiêng

    Cánh đồng xa mờ

    Cánh cò nghiêng cuối trời.

    Ca dao em và tôi – An Thuyên

    Quang Linh – https://nhac.vn/bai-hat/ca-dao-em-va-toi-quang-linh-soqdWB

    Để cùng ngân khúc ca dao quê mùa

    Để nghe tiếng sáo thân thương cánh cò

    Đã có lần em giận hờn tôi

    Đêm ra đồng em đổ ánh trăng vàng đi

    Truyện ngắn

    Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng

    … Khi người điên nhe răng, thì tôi bỗng lùi lại, tôi nhận ra anh ta, người mà trong gánh hát ai cũng gọi đùa là vị công tử si tình của Năm Thanh. Ðó là chàng thanh niên tuổi độ hai bốn hai lăm, con của một nhà giàu xứ Bạc Liêu, ruộng đất cò bay thẳng cánh, từng học ở Sài Gòn, lấy bằng “đíp lôm.”

    Lòng trần – Nguyễn Thị Thụy Vũ

    … Ông biết lán mán về quá khứ của ni cô ngày xưa lúc bà mới hai mươi tuổi, bà là vợ kế của nhà phú hộ trong làng Ðạo Ngạn thuộc tỉnh Mỹ Tho. Ruộng vườn của bà cò bay thẳng cánh.

    Tiếng gọi ngàn – Ðoàn Giỏi

    Nói cho “miên” thì bà con chẳng ai rõ lai lịch thầy Bẩy. Người thì bảo chắc ông thất tình hoặc trốn nợ; kẻ cho rằng: có chữ nghĩa như ông, ra làm việc thì thông ngôn ký lục dễ như chơi, lại bỏ trốn thị thiềng lánh về xứ khỉ ho cò gáy này, sống như một nông dân lam lũ, là ông muốn tỏ thái độ bất hợp tác với nhà nước Pháp…

    Chuyến đò tốc hành – Nguyễn Lê Hồng Hưng

    Sau khi sắp xong bàn ghế, các bạn kêu tôi cùng ngồi. Cái chị hồi nãy, tôi đoán là chủ quán, từ trong đi ra, chị ta kéo rẹt rẹt bốn tấm màn bông treo bốn bên lại. Trong nháy mắt chúng tôi ngồi trọn lỏn trong căn buồng dã chiến. Tôi hơi sửng sốt, không ngờ ở nơi mà lòng tôi luôn nghĩ là khỉ ho cò gáy lại có chuyện lạ như vầy.

    Giấc mơ cánh cò – Nguyễn Hòe

    Mùa mưa lại đến, đất trời sa sẩm, gió mưa đánh ghen đuổi nhau trên cánh đồng tít tắp. Đàn cò lại mải miết bay về phương nam. Tiếng kêu khắc khoải như xé toạc cả màn mưa dày đặc. Lão Tràng bước vào bếp lấy ra hai cái ống tre dài đã sạm đen lại vì khói bếp và bồ hóng. Lão rút ra từng nắm hom tre cũ, cẩn thận tra nhựa vào hom chuẩn bị cho một mùa chinh phạt.

    … Lão dừng lại trên một cánh đồng vừa gặt, cắm hom lên những mô cò đắp vội bằng đất và rạ chiều qua. Lũ cò mồi vắt vẻo đậu trên chiếc cọc tre cắm sâu vào lòng đất… Gió mỗi lúc càng thổi mạnh, mây đen trườn vào đất liền ngày càng nhiều. Ánh mắt lão thắc thỏm đợi chờ từng đàn cò bay tới.

    Nhưng sao lão cứ thấy sốt ruột. Không phải sự chờ đợi làm cho lão sốt ruột. Bởi bao nhiêu năm làm cái nghề này, lão có thừa lòng kiên nhẫn. Đàn cò đang đến rất gần, đôi bàn tay gân guốc của lão đang ra sức giật liên tục vào sợi dây cước. Những con cò mồi chao đảo, chấp chới như vẫy gọi, như cầu cứu đồng loại. Chỉ tích tắc nữa thôi, đàn cò đen kịt trên trời kia sẽ là của lão. Nhưng sao lão không có cảm giác hồ hởi, khoái trá như mọi khi. Lão thấy khó thở. Không được! Lão phải về ngay, ngộ nhỡ… Thế là lão đi như chạy trở về, gốc rạ lởm chởm dưới chân làm lão ngã dúi dụi.

    … Tin bão xa, trời chuyển mây xám xịt, gió thốc lên từng hồi ào ạt.

    Lão Tràng ngó lên trời, mắt đăm đăm:

    – Trời này là trời cò đây!

    Con Côi đang băm bèo cho lợn chợt dừng tay, hết nhìn bầu trời lại nhìn cha, vẻ mặt đầy nghi hoặc:

    – Cha ơi! Cò đi đâu thế?

    – Cò đi tránh bão!

    Lão trả lời nó nhưng mắt vẫn không rời khỏi đàn cò đang bay ngang qua nhà. Con gái lão vẫn chưa chịu tiếp tục công việc của mình, nó nhíu mày ra điều khó hiểu lắm:

    – Không đâu, cò đi học đấy!

    – Ừ! Phải rồi cò đi học.

    – Cò đi học sao cha lại bắt cò?

    – À… ừ… thì thôi không bắt nữa!

    Nói rồi lão thủng thẳng bỏ đi, có chút gì bối rối trong câu trả lời của người đàn ông hơn nửa cuộc đời làm cái nghề tàn sát chim trời!

    Truyện dài

    Đất rừng phương Nam – Đoàn Giỏi

    … Cò thì không biết bao nhiêu mà kể. Cò ngà, cò trắng, cò xanh, cò ma… buộc từng xâu, chất nằm hàng đống.

    Nhiếp ảnh

    Lung linh cánh cò quê – Phạm Văn Thành

    Có cánh chim nào thân thiết với người nông dân hơn cánh cò? Bao đời nay những cánh cò mỏng manh, khiêm nhường, cần mẫn đi bên cạnh người nông dân để xin con tép nhỏ trên đồng lúa, bên mom sông, bờ đầm. Cánh cò lặng lẽ, yếu đuối như thân phận người đàn bà nông thôn – Tất nhiên không thể thiếu được trên cánh đồng, trong cuộc sống thôn quê. Nếu gần gũi hơn sẽ thấy cánh cò không chỉ là yếu ớt mà còn thật đẹp. Đẹp đến say lòng trong sự mong manh ấy.

    * * *

    Có lẽ cò là nhóm chim xuất hiện nhiều nhất trong kho tàng văn hóa–nghệ thuật của Việt Nam. Điều này không có gì lạ, bởi vì những đàn cò xuất hiện trên toàn cõi Việt Nam, trên đồng ruộng, bãi cỏ, rặng cây, và tung bay cùng khắp trên bầu trời.

    Các loài cò nằm trong Họ Diệc (Ardeidae), gồm một số loài chim lội nước. Những tên gọi phổ biến của chúng trong tiếng Việt là cò, vạc, hay diệc. Các loài của họ này chủ yếu sống tại những vùng đất ẩm ướt. Khi bay, chúng rụt cổ lại, khác với các loài hạc, già đẫy, cò quăm, cò mỏ thìa… khi bay cổ dài ra. Cò làm tổ bằng những nhánh cây nhỏ ghép vào nhau một cách bừa bộn.

    Khi tác phẩm văn hóa–nghệ thuật chỉ nêu một tên đơn giản “cò” thì rất có thể đó là loài cò trắng vốn rất quen thuộc với người Việt Nam do sự phân bố rộng rãi trên mọi miền đất nước.

    Loài điểu học: cò trắng – little egret (Egretta garzetta)

    Cò trắng rất phổ biến ở mọi miền Việt Nam trong cả bốn mùa, lại gần gũi với con người trên ruộng đồng, nương rẫy, bờ sông, bờ hồ, và trên khắp bầu trời. Vì thế mà cò trắng đi vào rộng rãi trong văn học–nghệ thuật Việt Nam. Cũng vì thế mà loại cò này được gọi đơn giản là cò trắng, trong khi có một số loài cò khác cũng có bộ lông trắng nhưng hiếm hơn.

    Thân cao 55-65 cm. Toàn bộ lông thường trắng, nhưng cũng có chủng mang lông xám pha xanh lam nhạt. Để phân biệt với những loài cò lông trắng khác, cò trắng Egretta garzetta có mỏ đen, giò đen, và các ngón chân màu vàng nổi bật (khó thấy khi cò bước đi trong bùn, dễ nhận thấy khi bay). Trong mùa sinh sản, đầu có hai lông gáy hẹp từ chùm lông gáy dài 15 cm hướng về phía sau. Chim non: giò màu đen pha xanh lục, ngón chân màu vàng nhạt hơn.

    Môi trường sinh sống: đầm lầy, hồ, bãi lầy ngập triều, rừng tràm, rừng ngập mặn và cánh đồng lúa.

    Đẻ 3-5 trứng màu lam pha lục nhạt; cả bố mẹ đều ấp trứng và mớm mồi cho con.

    Cò ngàng lớn & Cò ngàng nhỏ

    Bút ký

    Quê hương đẹp quá vườn cò – Phúc Lộc

    … mỗi lần về quận Thốt Nốt, TP.Cần Thơ tôi đều ghé qua vườn cò Bằng Lăng để ngắm nhìn cho thỏa thích…

    Bác Bảy Thuyền, chủ nhân vườn cò cho biết: Cò là loài động vật hoang dã nhưng chúng mang tính tập thể rất cao. Từ sáng tinh mơ, cả họ nhà cò đều thức giấc. Sau đó, một vài con cất cánh bay vút lên trời cao, lao thẳng về một phương trời. Ngay lúc đó, hàng trăm, hàng ngàn những cánh cò khác cũng vội vàng tung cánh theo một đội hình đều đặn, không có con nào tách bầy. Lúc bấy giờ vườn cò chỉ còn lại những lũ chim non, chim làm tổ, ấp trứng và nuôi con.

    Khi mặt trời dần tắt cũng là lúc đàn cò rợp trời bay về, nào cò trắng, cò ngà, cò nâu, cò bông, cò lửa, cò đen, cò xám… khiến cho cả một vườn cây trở nên xao động.

    Vườn cò Bằng Lăng – Minh Nguyen

    http://dulichcantho.com.vn/dia-danh/vuon-co-bang-lang/n900.html#.XhUNglUzapo

    Ở đây có rất nhiều loại cò như: cò ruồi, cò cá, cò ngà, cò ma, cò xanh, cò lép, cò đúm, cò sen, cò quắm… Loại nhỏ nhất là cò lép, chỉ nặng chừng 150 gr. Lớn nhất là cò ngà, cò quắm nặng đến 1,2 kg. Giống cò ruồi lông trắng, mỏ vàng chân đen, một con nặng chừng 400 đến 500 gr.

    Bình yên khung cảnh vườn cò Bằng Lăng

    https://www.vgcr.org.vn/blog/binh-yen-khung-canh-vuon-co-bang-lang.html

    … đúng như cái tên vườn cò, có rất nhiều chủng loại cò sinh sống: cò ruồi, cò ngà, cò ma, cò sen…loại nhỏ nhất là cò lép, chỉ nặng chừng 200 g và lớn nhất là loại cò ngà với trọng lượng lên đến gần 1,2 kg.

    Vườn cò Bằng Lăng

    http://cantho.gov.vn/wps/wcm/connect/cantho/tieng+viet/gioithieu/thanhphocantho/datvanguoicantho/dia+danh-di+tich-thang+canh/tham+cac+vuon+chim+nam+bo

    Năm 1983, một đàn cò đông hàng trăm con chẳng biết từ đâu bay về đây sinh sống ở một góc vườn. Ðây là loài có mình đen, cánh trắng rất đẹp. Cò ngà mỏ vàng, cò quắm, cò cá mỏ đen chuyên bắt cá, thường “ở cữ” từ tháng tám cho đến tháng giêng âm lịch. Cò rằn, cò xanh, cò mồi mỏ vàng thích đậu trên lưng trâu ăn mồi nên còn gọi là cò trâu, ngoài ra chúng còn ăn cả sâu keo, chuồn chuồn. Cò ráng mầu đỏ giống như ánh sáng của ráng chiều lúc hoàng hôn. Cò lép, cò đùm nhỏ nhất, toàn thân mầu đen, ngực có đốm trắng.

    Truyện ngắn

    Rừng mắm – Bình Nguyên Lộc

    Thằng Cộc là một đứa bé bạc tình. Một đàn cò lông bông bay qua đó, đủ làm cho nó quên thằng chài ngay. Là vì đầu cò chởm chởm những cọng lông bông, nhắc nhở nó những kép võ hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mê, cách đây mấy năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng.

    Truyện dài

    Ngọn cỏ gió đùa – Hồ Biểu Chánh

    Ở ngoài đồng ngọn gió thổi lai-rai, đưa đẩy mấy chòm lau bóng giũ phất phơ, cộng ngã oặc-òa oặc-oại. Con cò ngà đậu trên nhánh bần rạch, xoè cánh ra phơi; vịt xiêm mái lội xuống mé đường mương kêu con đi rút tép.

    Xác định các loài cò

    Các tác giả đưa ra những mô tả mâu thuẫn nhau về các loài cò. Có lẽ lý do chính cho việc này là mỗi địa phương dùng từ ngữ khác nhau, khiến cho một tên chỉ hơn một loài và một loài có nhiều tên. Đó là điều vẫn hay xảy ra. Ví dụ như cùng một loại củ, trong Nam gọi là “khoai mì” thì ngoài Bắc gọi là “sắn”, nhưng khi người Nam gọi là “củ sắn” thì người Bắc lại gọi là “củ đậu”.

    Loài điểu học: cò ngàng lớn – great egret (Ardea alba)

    Theo những mô tả trong thơ văn thì cò ngà tương ứng với cò ngàng lớn hoặc cò ngàng nhỏ, đều thuộc Họ Diệc (Ardeidae). Ngoài hoang dã dễ có sự nhầm lẫn giữa hai loài cò này: khó nhận ra thế nào là lớn và thế nào là nhỏ bởi vì cò ngàng lớn còn non có thể to bằng cò ngàng nhỏ đã trưởng thành đầy đủ.

    Cò ngàng lớn tức cò ngà có thân dài 90 cm, nặng trung bình 1 kg. Là loài cò trắng lớn nhất, bộ lông hoàn toàn trắng. Da mặt màu xanh vàng nhạt. Nhìn gần có thể thấy đường đen của góc hai mép mỏ kéo dài dưới mắt, là đặc điểm phân biệt với loài cò ngàng nhỏ.

    Trong mùa sinh sản: Trên lưng không thấy có các lông dài từ đầu rủ xuống. Mỏ trở nên đen (hoặc một phần như vậy) và phần trên chân có màu xanh nhạt tương phản (đôi khi đỏ ửng). Ngoài mùa sinh sản chim non có mỏ màu vàng.

    Loài định cư. Phổ biến ở Đông Bắc, Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ.

    Sống ở sông, hồ, đầm lầy, rừng tràm, rừng ngập mặn và cánh đồng lúa.

    Loài điểu học: cò ngàng nhỏ – intermediate egret (Ardea intermedia)

    Cò ngàng nhỏ có thân thon dài 56-72 cm, nặng 400-500 gr. Bộ lông trắng toát, có khi phớt màu kem, chân tối màu. Mỏ hơi dày, thường màu vàng nhưng có thể thay đổi theo mùa. Đầu và cổ dài, thường có hình chữ S khi đang đứng hoặc bay. Ngoại hình giữa trống và mái không khác nhau lắm.

    Trong mùa sinh sản: có lông dạng sợi rất dài lỏng lẻo trên ngực và lưng, chân và ngón chân đen nhạt; da mặt vàng sáng; mỏ trên đen chỉ trong một thời kỳ ngắn. Ngoài mùa sinh sản: lông trên ngực và lưng ngắn gọn, mỏ vàng xám xịt với chóp mỏ tối và phía cuối thường sẫm hơn.

    Loài di trú từ Bắc Bộ đến Nam Trung Bộ; định cư ở miền Đông Nam Bộ và Nam Bộ.

    Cò ngàng nhỏ thường rón rén đi bắt mồi ở vùng nước nông duyên hải hay nước ngọt, như ruộng ngập nước. Nó thường xây tổ thành bầy cùng những con cò và diệc khác, trên cây và trong bụi rậm. Đẻ 2-5 trứng.

    Cò bợ

    Thơ

    Anh Đom Đóm – Võ Quảng

    Tiếng chị Cò Bợ:

    “Ru hỡi! Ru hời!

    Hỡi bé tôi ơi,

    Ngủ cho ngon giấc”.

    Mong nhớ hoài – Trảng Chim

    Lạch hoang cò bợ vươn cổ ngóc

    Cọc cằn diệc mũm mắt lim dim

    Truyện ngắn

    Con cò bay lả bay la – Ma Văn Kháng

    Tôi xa làng đi học ở nước người chốc đã năm năm. Một chiều xuân về thăm quê, đang thiu thiu, chợt thức tỉnh vì trên không trung vang lộng tiếng cò kêu như những tiếng kèn đồng. Vùng dậy, tôi chạy ra sân, ngước mắt lên cao.

    Trời! Cả một khoảng trời đang giăng giăng phấp phới những cánh cò. Cò trắng cò nâu cò lửa cò bợ, cò bố cò mẹ cò con. Những con cò cổ dài, mỏ nhọn, chân cao, mong manh một sắc trắng thanh khiết, sau một ngày đi kiếm ăn nơi đồng Mụ bên con sông Hồng màu mỡ phù sa đang trở về nơi cư trú, dáng vẻ đều thanh thản, yên hòa. Con dang cánh lượn. Con vỗ cánh đảo vòng tìm ổ. Trên những cành tre mềm mại dẻo dai, con đang rỉa lông, rỉa cánh. Con đang nghênh mỏ ngắm nhìn cảnh trí xung quanh. Gió nhè nhẹ, khóm tre rung rinh lả lướt, vắt vẻo một nhịp điệu êm đềm. Từ dưới nhìn lên, thấy những chiếc tổ cò đan bện đặt thật khéo giữa những thân cành che chắn tua tủa, thấy cả cảnh cò mẹ đang chúc mỏ bón cho cò con. Rừng tre bao la này là khu chung cư, nơi trú ngụ bình yên muôn thuở của các gia đình nhà cò.

    Loài điểu học: cò bợ – Chinese pond heron (Ardeola bacchus)

    Cò bợ thuộc Họ Diệc (Ardeidae).

    Dân gian gọi loài này là “cò xám” trong khi thật ra bộ lông phần đầu, cổ và lưng thiên về màu cà phê sữa hoặc màu đất sét.

    Thợ săn khoe “cò xám” anh bắn được (ảnh chụp từ video clip)

    Thân dài 46 cm. Bộ lông khi bay màu trắng loáng. Trong mùa sinh sản: Bộ lông pha trộn giữa màu đá xám, trắng và nổi bật nhất là màu đỏ như ráng chiều (phải chăng vì thế mà được dân gian gọi à “cò ráng”?) Ngoài mùa sinh sản: Tương đối khó mô tả; lông màu nâu nhạt, cổ và ngực có viền nâu sậm sọc chạy dọc. Chỉ thấy được đôi cánh trắng khi bay.  Chim non: Giống chim trưởng thành ngoài mùa sinh sản.

    Loài định cư, phổ biến toàn cõi Việt Nam.

    Sống ở ao, hồ, đầm lầy và cánh đồng lúa. Tôi thường trông thấy cò bợ kiếm ăn dọc bờ sông ở khu Phú Mỹ Hưng, Q.7.

    Cò hương

    Thành ngữ

    Thân hình cò hương / Cặp giò cò hương.

    Truyện ngắn

    Một người hiếm có – Thế Lữ

    Nhân thể, anh nói chuyện với tôi về tính vui hồn nhiên của tuổi thơ ngây, nhắc đến những lúc còn bé dại, đến lúc đi học hay đánh nhau với anh em bạn; lúc bị thầy giáo phạt, rồi bình phẩm các thầy giáo và các bạn chung của chúng tôi:

    – Ông Biên thầy cúng, chẳng biết bây giờ còn ngâm thơ bằng cái giọng khàn khàn nữa không?… Ông Lương pha trò sao mà nhạt thế… Ông Đàm hôm nọ tôi gặp ở phố Hàng Bún đang lau kính, đi lò dò như con cò hương. Anh còn nhớ hồi ông mới đến dạy chúng ta không? Tôi hay chế ông ta nhất.

    Một trong những đêm trắng – Nguyễn Hoài Phương

    Ðể lấy được mấy cái vỏ chai không, Thu phải bê chân Long Voi đặt sang chỗ khác. Chân chú này nặng chình chịch làm Thu liên tưởng đến mấy cái cẳng chân lẻo khoẻo như cẳng cò hương của Hà.

    Loài điểu học: cò hương – black bittern (Ixobrychus flavicollis)

    Cò hương thuộc Họ Diệc (Ardeidae).

    Khá lớn: thân dài 54-58 cm. Bộ dạng đúng kiểu cò hương: hai chân khẳng khiu thiếu cân đối với thân thô kệch. Bộ lông có màu rất tối (lưng trông như màu đen khi bay là đặc điểm nhận dạng), hai bên cổ màu vàng, bụng trắng xỉn có những vệt nâu dầy. mỏ hình con dao găm, dài không cân đối. Khi bay thấy cổ rất dài, vươn ra hình nửa chữ S.

    Chim trống: màu xám sẫm pha xanh lam, họng, cổ và ngực trên có viền sọc màu vàng da bò sẫm, ngực có những sọc nhạt chạy dọc. Chim mái: Tương tự như chim trống nhưng nâu sậm thay cho màu đen.

    Loài định cư từ đồng bằng Sông Hồng đến Nam Bộ.

    Sống ở bãi sậy, đầm lầy, rừng ngập mặn, cánh đồng lúa, suối trong rừng. Khó quan sát vì hoạt động kín đáo, chủ yếu kiếm ăn vào ban đêm. Làm tổ trên cây.

    Cò lửa

    Câu đối

    Có đôi câu đố về thuật nói lái như sau:

    Cá đối nằm trên cối đá

    Cò lửa đứng trước cửa lò

    Bút ký

    Quê hương đẹp quá vườn cò – Phúc Lộc

    … mỗi lần về quận Thốt Nốt, TP.Cần Thơ tôi đều ghé qua vườn cò Bằng Lăng để ngắm nhìn cho thỏa thích…

    Bác Bảy Thuyền, chủ nhân vườn cò cho biết: Cò là loài động vật hoang dã nhưng chúng mang tính tập thể rất cao. Từ sáng tinh mơ, cả họ nhà cò đều thức giấc. Sau đó, một vài con cất cánh bay vút lên trời cao, lao thẳng về một phương trời. Ngay lúc đó, hàng trăm, hàng ngàn những cánh cò khác cũng vội vàng tung cánh theo một đội hình đều đặn, không có con nào tách bầy. Lúc bấy giờ vườn cò chỉ còn lại những lũ chim non, chim làm tổ, ấp trứng và nuôi con.

    Khi mặt trời dần tắt cũng là lúc đàn cò rợp trời bay về, nào cò trắng, cò ngà, cò nâu, cò bông, cò lửa, cò đen, cò xám… khiến cho cả một vườn cây trở nên xao động.

    Loài điểu học: cò lửa – cinnamon bittern (Ixobrychus cinnamomeus)

    Cò lửa thuộc Họ Diệc (Ardeidae).

    Thân dài 41 cm. Bộ lông rất đặc trưng: khi bay có màu nâu vỏ quế đúng như tên gọi tiếng Anh. Chim trống: Toàn bộ phần trên cơ thể phủ đều một màu nâu vàng sáng. Mỏ màu đỏ khi mùa sinh sản bắt đầu. Chim mái: Như chim đực nhưng phần lưng tối hơn, phần dưới cơ thể xám xịt hơn, có nhiều viền sọc hơn. Chim non: Màu nâu hơn, phần trên cơ thể có nhiều vệt và điểm nâu sẫm.

    Loài phổ biến: định cư vùng Tây-Bắc, Nam Trung Bộ đến Nam Bộ; di trú trên các vùng còn lại của Việt Nam.

    Sống ở vùng đầm lầy, bãi sậy, rừng và cỏ cây vùng đất ngập nước, dọc sông suối, và trên đồng lúa.

    Cò ma / Cò ruồi

    Chân đi khấp khẻo

    Là con cò ma

    Thơ

    Cũng đã chân mây – Luân Tâm

    Chìa vôi thánh thót tình ca

    Bãi trầu xanh bóng, cò ma bạc phần

    Sầu riêng đá mòn – Luân Tâm

    Buồn quê tuyệt giống cua còng

    Nước lớn điên điển, nước ròng cò ma

    Truyện ngắn

    Rừng mắm – Bình Nguyên Lộc

    Ðủ thứ là cò, cò ma, cò lông bông, cò quắm, cò hương, thân mật nhìn gia đình bốn người gặt lúa nhà. Ðây là bốn người độc nhứt mà chúng thấy mỗi ngày ở vùng hoang vắng nầy; ban đầu chúng sợ hãi họ, nhưng về sau, thấy họ hiền từ quá, chúng làm quen với họ đã được bốn thế hệ cò rồi.

    Loài điểu học: cò ruồi – cattle egret (Bubulcus ibis)

    Wikipedia và nhiều nguồn cho rằng cò ma tức là cò ruồi. Loài này thuộc Họ Diệc, phân bố rộng ở vùng cận nhiệt đới, nhiệt đới và vùng có nhiệt độ ấm.

    Khác với các loài cò khác thường kiếm ăn ở bờ nước, ta thường gặp cò ruồi ở nơi khô ráo. Nếu có cò trắng kiếm ăn trên đồng cỏ quanh đàn trâu bò và còn đậu trên lưng gia súc, thì phần lớn đó là cò ruồi, mà dân gian gọi là cò bắt ruồi hoặc cò trâu, tên thứ hai ứng với tên thông thường tiếng Anh.

    Cò đi kiếm ăn theo trâu

    Thân cò ruồi dài 51 cm. Trong thời kỳ sinh sản: bộ lông giàu màu vàng và màu trắng dễ phân biệt. Với bộ lông này đôi chân thường màu đen nhạt có thể trở thành xanh vàng, và chân, mỏ, da mặt đôi khi hơi đỏ. Ngoài thời kỳ sinh sản và chim non: lông màu trắng, khác với cò trắng cùng lứa bởi mỏ màu vàng và ngắn hơn. Chim thường cúi mình khi đứng yên.

    Cò ruồi định cư phổ biến toàn cõi Việt Nam. Sống ở rừng, gần đầm lầy ngập nước, đồng cỏ và đồng lúa.

    Cò nâu

    Bút ký

    Quê hương đẹp quá vườn cò – Phúc Lộc

    … mỗi lần về quận Thốt Nốt, TP. Cần Thơ tôi đều ghé qua vườn cò Bằng Lăng để ngắm nhìn cho thỏa thích…

    Bác Bảy Thuyền, chủ nhân vườn cò cho biết: Cò là loài động vật hoang dã nhưng chúng mang tính tập thể rất cao. Từ sáng tinh mơ, cả họ nhà cò đều thức giấc. Sau đó, một vài con cất cánh bay vút lên trời cao, lao thẳng về một phương trời. Ngay lúc đó, hàng trăm, hàng ngàn những cánh cò khác cũng vội vàng tung cánh theo một đội hình đều đặn, không có con nào tách bầy. Lúc bấy giờ vườn cò chỉ còn lại những lũ chim non, chim làm tổ, ấp trứng và nuôi con.

    Khi mặt trời dần tắt cũng là lúc đàn cò rợp trời bay về, nào cò trắng, cò ngà, cò nâu, cò bông, cò lửa, cò đen, cò xám… khiến cho cả một vườn cây trở nên xao động.

    Ven sông Ba có chỗ gọi là Bãi Công, sách Đại Nam Nhất thống chí viết Khổng Tước uyên, một bản dịch viết Bãi Khổng Tước (Bãi là đúng, nhưng dân quê đâu biết khổng tước là con công), một bản dịch viết Vực Công (công là đúng, nhưng đây là bãi không phải vực).

    Âm nhạc

    Lên rừng ba mươi sáu thứ chim – Phạm Duy

    Kim Tước & Vũ Anh – https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/len-rung-ba-muoi-sau-thu-chim-pham-duy-5-kim-tuoc-ft-vu-anh.Ap5ayq9Qqy.html

    Con công tố hộ trên rừng

    Chim trời cá nước vẫy vùng dọc ngang

    Tiếng chim quý báu vô chừng

    Con công tố hộ trên rừng, mặc công.

    Loài điểu học: công – green peafowl (Pavo muticus)

    Chim công hoặc khổng tước ở Việt Nam được cho là có xuất xứ lâu đời từ Trung Quốc. Sau này có các giống công nhập từ Ấn Độ.

    Bộ lông chiếm tới 60% tổng trọng lượng cơ thể của một con chim công. Sải cánh của loài chim này có thể lên tới 1,5m. Đây là một trong những loài chim lớn nhất trên thế giới.

    Công trống: cơ thể dài 2,1 m trong đó đuôi dài tới 1,5 m, bộ lông sặc sỡ. Công mái: kích thước nhỏ hơn, lông màu nâu xám.

    Trong thời kỳ giao phối và sinh sản, công thường chia thành từng nhóm nhỏ bao gồm vài chim mái và một chim trống duy nhất. Mùa giao phối thường xảy ra vào mùa xuân, và chim công trống thường xòe bộ lông sặc sỡ biểu diễn cho chim cái, đồng thời phát ra âm thanh với tần số mà con người và các loài khác khó có thể nghe được ngoại trừ chim mái. Khi chim mái nghe thấy âm thanh đó, nó sẽ quyết định xem có nên chọn chim trống này làm bạn tình hay không.

    Khi mùa giao phối kết thúc, chim mái tách đàn sống độc lập để đẻ trứng, chim công trống cũng sống độc lập và ngừng giao tiếp với các chim cái khác. Chim công trống không hề đảm nhiệm việc nuôi chim con của chúng, việc này phụ thuộc hoàn toàn vào chim công mẹ.

    Công sống trong các loại rừng trừ rừng lá kim.

    Do sự săn bắt và môi trường sống bị thu hẹp nên công là loài động vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài hoang dã, vì thế được đưa vào Sách Đỏ để bảo vệ.

    Ở Việt Nam, có nhiều trang trại nuôi và nhân giống công với đủ quy mô lớn nhỏ nhưng không chắc gìn giữ được nguồn gien của phân loài công Việt Nam.

    Cồng cộc / Cốc đen

    Nết ở chẳng hiền

    Là chim cồng cộc

    Truyện ngắn

    Mùa Xuân nghe tiếng chim – Võ Hồng

    Với đóa hoa nhu mì gần gũi, người mở sách tra chữ và đặt tên. Còn với chim trời, chỉ nhìn thấy dáng xa xa, lại gần thì bay mất: nên thường dựa theo tiếng kêu mà đặt cho một cái tên quấy quá, lấy có: cồng cộc, bồ chao, chèo bẻo, bìm bịp… Cả đến tên bắt cô trói cột. Chỉ với những con chim quý, cưng dưỡng trong lồng mới tầm chương trích cú: hồng yến, hoàng anh…

    Truyện dài

    Đất rừng phương Nam – Đoàn Giỏi

    … Một đám đàn bà trẻ con đang ngồi lúi húi vặt lông chim cồng cộc gần đấy.

    Bút ký

    Thú vị vườn chim Tư Sự – Băng Thanh

    Anh Trương Minh Thắng, chủ vườn chim Tư Sự (toạ lạc tại ấp Quyền Thiện, xã Biển Bạch Đông, huyện Thới Bình) cười khanh khách khi thấy tôi đến sớm, vì anh biểu tôi tới lúc tầm 4-5 giờ chiều để thoả sức ngắm nhìn những đàn chim lũ lượt bay về tổ. Chúng bay trật tự, tách biệt giữa sắc lông, chủng loại và theo đội hình ngộ nghĩnh, thú vị.

    Anh chỉ tay về phía những tán cây gừa, cây sộp, thuyết minh một tràng: “Màu trắng tinh kia là của cò ngà, còn màu đen như dầu hắc là của cồng cộc… Anh trêu: “Thôi chịu khó ngồi ôm máy ảnh rình, sẽ không khó bắt gặp cảnh chim mẹ mớm thức ăn cho con khi chúng đang háo hức vẫy cánh chờ đợi con mồi trong các tổ chim nằm trên ngọn cây”.

    Loài điểu học: cốc đen – little cormorant (Microcarbo niger)

    Cồng cộc hoặc còng cọc hoặc chim cốc là tên trong dân gian gọi cốc đen, thuộc Họ Cốc (Phalacrocoracidae).

    Cư dân ở Trung Quốc, Mông Cổ, Nhật Bản sống gần sông, hồ, thường dùng một số loài cốc lớn để bắt cá cho chủ. Cốc đế (lớn hơn cốc đen, hiếm ở Việt Nam) là một trong số loài cốc được thuần dưỡng để bắt cá. Cốc được xích bằng dây, lặn xuống nước bắt cá và ngậm trong miệng. Để tránh chim nuốt mất cá và điều khiển chúng dễ dàng hơn, ngư dân buộc dây thừng rồi thắt nút gần cổ chim. Khi chim mò cá ngậm đầy trong mồm, chúng được kéo lên gỡ cá khỏi cổ họng và lại tiếp tục thả xuống nước để bắt. Cách thức bắt cá này đã theo tryền thống từ khoảng 1.300 năm nay, hiện đang dần mai một.

    Cốc đen là loài định cư phổ biến từ đồng bằng Bắc Bộ đến Nam Bộ kể cả ở sân chim Bạc Liêu, rừng ngập mặn Minh Hải, sân chim Vàm Sát trong rừng phòng hộ Cần Giờ, Vườn Quốc gia U Minh Thượng…

    Thân dài 50 cm, mỏ hẹp và dài, chót mỏ tạo thành móc câu.

    Sống ở các vùng đất ngập nước, ven bờ sông, hồ, cửa sông thủy triều từ đồng bằng đến vùng cao như Đà Lạt, Yok Don…

    Khá dạn dĩ: có lúc tôi đang đứng ở một bờ hồ bên Thái Lan xem chim hoang dã thì một con cốc đen bay đến đậu trên một cành cây chỉ cách tôi 3 m. Tôi nhẹ nhàng giơ máy ảnh lên chụp chán chê, con cốc đen vẫn đậu yên một chỗ cho tôi ngắm nó mãi…

    Cổ rắn / Điêng điểng

    Ký sự

    Điên điển – loài chim tráo cá – Nguyễn Hào Quang

    Ở vùng này, mỗi nhà thường nuôi một vài ao cá. Mỗi loài cá đều được nuôi ở những ao riêng biệt để chúng khỏi đánh nhau và dễ dàng phân loại khi mua bán. Vậy mà, khi các lão nông tát ao lên thì ôi thôi: ao cá lóc lẫn đầy cá trê, ao cá trê lẫn đầy cá lóc… Tức mình, họ quyết định thả lứa cá con khác và cẩn thận canh chừng xem ai đã đến đổi cá ở ao mình. Canh mãi chỉ thấy mấy loài chim bói cá, cồng cộc và điên điển hay lui tới bắt trộm cá. Đối tượng đã được khoanh vùng, tiếp tục theo dõi thì người ta phát hiện nhiều lần chim điên điển bắt được cá nhưng không ăn, chúng bay sang ao khác thả cá rồi lại đi bắt tiếp.

    Hóa ra, vì là loài chim có biệt tài săn bắt cá thứ thiệt, nay cá tôm ngày càng ít, thức ăn thiếu trầm trọng, chim điên điển nghĩ ra chiêu thức kiếm mồi mới: lẻn ngay vào ao nhà bắt lấy cá nuôi.

    Như chúng ta đã biết, hầu hết các loài động vật thường có tập tính dự trữ thức ăn. Nhiều loài thú chọn cách tích trữ mỡ để sống qua mùa đói kém, các loài chim thường khó sử dụng được cách này vì quá trình chuyển hóa năng lượng ở chim diễn ra với tốc độ chóng mặt và chim phải giữ trọng lượng cơ thể lúc nào cũng phải gọn nhẹ để bay nhảy cho tiện. Cách duy nhất để dự trữ năng lượng ở chim là tích trữ thức ăn. Chim điên điển thường bắt cá thả vào ao để dự trữ thức ăn cho những tháng mùa khô đói kém. Thế tại sao chim không thả cá vào sông, hồ? Đơn giản vì ao nhỏ, cá không chạy đâu được. Mỗi chú chim điên điển chọn cho mình một cái ao để thả cá, thế là mỗi lần tát ao, các lão nông bắt được đủ thứ cá!

    Cận cảnh đàn chim cổ rắn quý hiếm ở Đồng Nai – Thiennhien.net

    Việc đàn chim cổ rắn quý hiếm khoảng 500 con bất ngờ xuất hiện tại phường Bửu Long, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã thu hút sự quan tâm của nhiều người, nhất là những người yêu thích chim rừng và các nhà nghiên cứu những loại động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng.

    Thơ

    Cu gáy – Trần Thanh Địch

    Những chàng trai xinh

    Những anh cu gáy

    Yếm quàng hạt cườm

    Lấp la lấp láy

    Ngày hôm sau quay trở lại, khách má hồng đã không tìm thấy anh ở đấy nữa. Ngôi nhà trên đỉnh đồi và cả khu vườn tượng lặng im, hoang vắng như chưa từng có người ở. Nắng lỗ chỗ ở trên mặt đất như rơi từng giọt trắng, và tiếng chim cu gù đâu đó vẳng lại nghe xa ngái và khắc khoải nỗi chia ly. Mẹ cô vẫn đứng đó, trẻ trung, xinh đẹp trong cái lốt của đá hoa cương, như bà chủ quán xuyến ngôi nhà.

    Con chim cu cườm – Nguyễn Văn Uông

    Ông nửa tỉnh nửa như váng vất giọng gáy còn khàn khàn, vang vang non choẹt thật dễ thương. Nó đã biết tập gù gọi bạn tình. Ông thoáng thấy vòng cườm phồng lên theo tiếng gù non nớt nhịp nhàng với những cái ngúc cúi đầu gọi mời tình tứ…

    Nho xanh – Ma Văn Kháng      

    Chao ôi! Bây giờ mới thấy mình không có được cái sức làm việc như của ông Phù Hưng. Sáng dậy, sau bát phở tái nạm và tách cà phê là ông ấy ngồi vào bàn. Tay kẹp thuốc lá, tay cầm bút, cứ thế ông ta lia. Đúng là lia chứ không phải viết. Lia thật thoải mái, trơn tru trong khung cảnh ngoài cửa sổ, giò phong lan thoảng đưa hương thơm bánh khảo. Con cu cườm chốc chốc điểm nhịp bốn tiếng gáy trầm ấm. Ý tứ bồng bồng nở, chữ nghĩa tuôn đổ ào ào, mỗi buổi sáng ông Phù Hưng xong một cái truyện ngắn năm trang ngon ơ…

    Loài điểu học: cu gáy – spotted dove (Spilopelia chinensis)

    Ghi chú: Ban đầu được xếp vào chi Streptopelia, vì vậy tài liệu cũ vẫn còn ghi tên chi cũ.

    Trong số các loài chim cu ở Việt Nam, cu gáy – còn được gọi là chim cu, chim gáy, cu đất, cu đồng – là loài phổ biến hơn hẳn các loài cu khác. Vì thế, khi người ta chỉ đơn giản nói đến chim cu, thì phần lớn đó là loài cu gáy.

    Thân dài 28-32 cm. Cu gáy có hình dáng chung của chim bồ câu, nhưng nhỏ hơn hẳn. Sắc lông thay đổi khác nhau nhiều. Nói chung, gáy và mặt bụng nâu nhạt phớt tím hồng; đỉnh đầu và hai bên đầu phớt xám; đùi, bụng và dưới đuôi màu hơi nhạt hơn. Hai bên cổ màu đen có những điểm tròn trắng tạo thành một nửa vòng hở ở phía trước cổ. Thời kỳ sinh sản ở con đực vòng này nổi lên rất rõ, người ta gọi là cườm. Mặt lưng nâu, các lông có viền hung nhạt rất hẹp. Mắt nâu đỏ hay nâu với vòng đỏ ở trong. Mỏ đen. Chân đỏ tươi hoặc đỏ xám. Rất khó phân biệt trống mái bởi vì màu lông giống nhau, cũng gáy như nhau.

    Cu gáy đi có đôi trong đàn 4 đến 16 con và có khi nhiều hơn nữa, quanh năm không đi xa khỏi vùng làm tổ. Cu gáy là một loài chim chung tình, chúng sống thành từng cặp cho đến suốt đời, chim trống, mái chỉ kết đôi lại khi bạn tình qua đời.

    Chim đầu đàn có tính bảo vệ lãnh thổ. Khi nghe tiếng gáy của cá thể lạ, nó sẽ tìm đến rồi lao vào chiến đấu. Người ta lợi dụng đặc điểm này để bẫy chim cu gáy bằng cách dùng một cu mồi siêng gáy.

    Ở Việt Nam cu gáy là loài định cư, phân bố rộng rãi, thường sống ở các vùng rừng thưa, đồng bằng, trung du, nhiều khi vào công viên, làng mạc, vùng ngoại ô và cả thành phố. Không gặp cu gáy trong rừng sâu. Tổ được làm sơ sài bằng nhánh cây nhỏ. Tôi thường trông thấy cu gáy kiếm ăn ở các công viên trong khu đô thị Phú Mỹ Hưng, Q.7, Tp HCM, và ở đây vẫn thường nghe tiếng loài này vang đến từ xa.

    Tiếng kêu dài ngắn khác nhau, thường là ‘cục–cu-cu–cù’. Nhiều lần tôi từng thấy cu gáy xuống đất kiếm mồi, nhưng chỉ nghe tiếng kêu từ xa, khi chim đậu trên cây cao.

    Cu gáy được thuần dưỡng và nuôi phổ biến từ lâu. Mỗi năm, một cặp chim bố mẹ thuần dưỡng thường đẻ 8 đến 9 lứa, mỗi lần cho ra 1 đến 2 quả trứng, 10 ngày sau khi trứng nở chim mẹ tiếp tục đẻ lứa khác.

    Ghi chú: Trang Wikipedia ghi cu cườm (Spilopelia chinensis tigrina) là một phân loài của cu gáy (Spilopelia chinensis), nhưng không cho biết sự khác biệt giữa cu cườm và cu gáy là như thế nào. Các trang web về điểu học cũng không có mô tả về phân loài này. Ta chỉ biết rằng phân loài hiện diện ở vùng Đông Nam Á kể cả Việt Nam. Dân gian không thể phân biệt cu cườm với cu gáy, và có lẽ văn thi sĩ cũng thế.

    Hình ảnh và tiếng kêu:

    https://www.birdwatchingvietnam.net/science-name/spotted-dove-404

    Đặc biệt, nhiều bản ghi âm tiếng kêu của các loài chim khác thường trộn lẫn tiếng cu gáy, cho thấy cu gáy có sự thích ứng tốt ở nhiều điều kiện sinh cảnh khác nhau.

    Loài điểu học: cu vằn – zebra dove (Geopelia striata)

    Đây là một ngoại lệ của bài này, bởi vì cu vằn (còn được dân gian gọi là cu vằn Thái Lan) là loài chim khá mới mẻ ở Việt Nam vì thế hẳn chưa đi vào văn học nghệ thuật người Việt.

    Đối với tôi, cu vằn là loài thân thương vì tôi thường nhìn ngắm chúng ở khoảng cách khá gần, chỉ 3 m, trong khu dân cư ngoại ô Bangbok và trong các công viên ở Phú Mỹ Hưng, Q7, Tp HCM. Tôi đứng yên một chỗ quan sát con vật cứ đi tới đi lui gần tôi, chỉ lo kiếm mổ trên mặt đất.

    Từ trước đến gần đây, giới điểu học chưa từng ghi nhận loài cu vằn trong môi trường thiên nhiên Việt Nam. Cho đến năm 2011, một nhà nghiên cứu chim trên thế giới quan sát được loài này ngoài thiên nhiên tại khu vực Hồ Trị An. Sau đó, cu vằn được tìm thấy tại Bình Châu, Phước Bửu, vào năm 2012. Người ta cho rằng cu vằn có thể là loài du nhập, ví dụ như có người nhập từ nước ngoài về nuôi rồi để nó xổng ra ngoài, tuy rằng điều này là lạ vì cu vằn trông không đẹp và hót không hay!

    Những khảo sát được thực hiện bởi Viện Sinh thái học Miền Nam từ những năm 2012 đến nay phát hiện ngày càng nhiều cu vằn ngoài thiên nhiên, kể cả vườn quốc gia hay khu bảo tồn. Cho đến nay, cu vằn đã được tìm thấy tại VQG Lò Gò – Xa Mát (Tây Ninh), VQG Cát Tiên (Đồng Nai), VQG U Minh Hạ (Cà Mau), và nhiều khu vực đô thị khác như Tp. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Biên Hòa, Phan Rang… Cu vằn phân bố rộng trong vùng Đông Nam Á.

    Số lượng cá thể của cu vằn ở Việt Nam hiện đang tăng nhanh, từ một vài cá thể được quan sát đầu tiên mỗi lần đến hàng chục cá thể mỗi bầy như trường hợp tại Thị trấn Long Hải, Bà Rịa–Vũng Tàu. Riêng tôi thường thấy cu vằn đi thành đôi ở Phú Mỹ Hưng, Q7, Tp HCM.

    Những quan sát gần đây cho thấy loài này cạnh tranh môi trường sống với các loài chim bản địa như sẻ nhà, cu gáy, cu cườm và các loài chim ăn hạt khác. Chính vì là loài chim ngoại lai nhưng có khả năng thích nghi với môi trường đô thị và các môi trường nhân tác nên cu vằn được dự đoán là có thể phát tán rộng ra nhiều khu vực khác của Việt Nam.

    Đây là loài chim cu nhỏ nhất, dài chỉ 20-22 cm, thân hình thon gọn. Phần trên toàn màu xám tro với những vằn chạy ngang thân, phần dưới màu sáng hơn; đầu và họng có thể phớt màu lam.

    Sinh cảnh sống: Cây bụi, công viên, vùng trồng trọt và kể cả đô thị.

    Thường đi theo đàn nhưng đến mùa sinh sản thì từng đôi tách ra. Làm tổ trên những cành cây không cao lắm. Tổ đơn giản, nhỏ gọn. Mỗi lứa thường đẻ 2 trứng có màu trắng. Do tính dạn dĩ với người nên cu vằn thường làm tổ cạnh nhà người; có ý kiến cho rằng chúng làm thế để tránh chim ăn thịt phá hoại tổ bởi vì các loài chim này nhát người hơn nên tổ cu vằn sẽ được an toàn. Hoặc là có lý do khác: bản thân chim bố mẹ đã được thuần dưỡng (?)

    Cu vằn nhạy bén với tiếng chim cu vằn lạ. Khi nghe tiếng chim đồng loại ở khu vực sinh sống, cu vằn sẽ bay đến để chiến đấu và bảo vệ lãnh thổ.

    Ở Thái Lan và Indonesia, cu vằn được nuôi làm chim cảnh do đặc tính khi để các lồng gần nhau chúng sẽ hót thi với nhau. Có người than phiền cu vằn nuôi thường gáy vào ban đêm, gây phiền nhiễu.

    Tiếng kêu: một chuỗi những tiếng ‘cu-u-ru’, đôi khi dài hơn ‘cu-u-ru-u-u’, các chuỗi cách nhau 1-2 giây, có thể vang đi khá xa:

    https://www.xeno-canto.org/species/Geopelia-striata

    Cu ngói / Chim ngói

    Truyện dài

    Tắt đèn – Ngô Tất Tố

    Từ ngày ‘giữ chức ông Nghị’, danh tiếng của ông đã bay khắp tỉnh Trung sơn. Thế nhưng suốt năm chí tối, ông không phải thết một ông khách sáo, trừ ra hai ngày giỗ cha và giỗ mẹ.

    Cố nhiên, ông phải là một người cơ chỉ, so kè từ một đồng xu trở đi. Vậy mà lắm khi ông lại rất hào. Nhất là những dịp tết ta, tết tây, không dịp nào ông quên không bắt chim ngói, gà mái theo những thúng gạo tám thơm vào cửa mấy ông to lớn.

    Truyện ngắn

    Mùa chim ngói – Xuân Hương

    … Hàng năm cứ mỗi khi thấy những bông lúa sớm hoe vàng là từng đàn chim ngói bay về kiếm ăn. Thuở còn nhỏ, tôi đã thấy có đàn đông tới hàng trăm con, đàn nhỏ cũng vài ba chục con. Lông chim màu hồng, nhưng cũng có con màu xanh; lông nọ xếp lên lông kia theo hàng như mái nhà lợp ngói.

    … Những năm còn nhỏ, tháng tám tôi thường theo cha đi bẫy chim ngói. Trước đây rét hơn bây giờ. Mùa thu, sương mù dày đặc bao phủ xóm làng, đồng ruộng, rét chẳng kém mùa đông. Mới gần bốn giờ sáng, cha tôi đã thức dậy, để ra đồng chuẩn bị trải lưới, khâu mắt chim mồi, cắm cành lá làm giả bụi cây che người cho chim trời không biết… tất cả mọi việc đều phải xong trước khi trời sáng. Bởi lẽ, mặt trời tỏa nắng là chim ngói đã đi kiếm ăn rồi. Trong dân gian bao đời nay vẫn truyền tụng nhau câu “chim chết mệt vì mồi” quả không sai.

    … Cứ thế, năm này sang năm khác. Mùa chim ngói nọ tiếp mùa chim ngói kia, cha tôi cần mẫn đi bẫy chim. Có hôm chỉ được đôi con, nhưng cũng có hôm may mắn được nhiều có tiền chi tiêu muối mắm. Bẫy chim ngói là một thú chơi vất vả, nhưng góp phần bảo vệ lúa cho mọi nhà, không bị chim phá hoại.

    Cha tôi giờ đã về cõi vĩnh hằng, hàng năm cứ mỗi độ thu về, nhìn từng đàn chim ngói bay liệng trên bầu trời, tôi càng nhớ cha da diết, không nguôi…

    Mùa chim bẫy – Bùi Nhật Lai

    Cuối tháng năm, hay đầu tháng tám âm lịch hàng năm khi những vạt lúa sớm ven rừng bắt đầu vào mẩy, lác đác vài đám lúa bắt đầu “đỏ đuôi” báo hiệu mùa lúa chín. Vẳng trong lũy tre làng tiếng chim gáy vang lên gióng giả gọi mùa về. Đó cũng là lúc những người bẫy chim ngói quê tôi vào vụ. Chim ngói như dân làng quê tôi gọi là chim bẫy, hình dánh chúng nếu chỉ nhìn thoáng qua ta dễ lầm tưởng chúng với chim cu gáy, bộ lông cũng màu tro xám nhưng tươi hơn, cườm cổ ít hơn và mình nhỏ hơn chim cu gáy. Điểm khác biệt lớn nhất là chim ngói không biết gáy và chúng thường sống thành từng đàn từ chục con, có đàn đông đến hàng mấy chục con.

    Loài điểu học: cu ngói – red collared dove, red turtle dove (Streptopelia tranquebarica)

    Thân dài 21-23 cm; nhỏ hơn cu gáy. Còn được gọi là chim ngói, cu ngói cũng có vòng đen ở sau cổ nhưng không nổi bật như cu gáy. Chim trống: lưng màu nâu đỏ từ nhạt đến sẫm như màu ngói lợp nhà ngày xưa (bây giờ nên so sánh với màu rượu vang đỏ) tương phản với đầu màu lam nhạt, hông và đuôi màu đá xám. Chim mái: toàn thân nâu-xám sẫm, đôi khi phớt hồng.

    Định cư phổ biến toàn cõi Việt Nam từ đồng bằng, trung du đến miền núi, tuy không phổ biến bằng cu gáy. Phân bố đến độ cao khoảng 1.200 mét.

    Sống ở rừng thứ sinh nơi có nhiều cây bụi, vùng quê thoáng đãng. Thường đậu thành đàn nhưng sống cặp đôi. Gặp nhiều đàn lớn sống trong rừng tràm ở đồng bằng sông Cửu Long (1999). Cũng thích vùng đất thấp trồng trọt gần bờ biển.

    Tiếng kêu: 3-4 âm liền nhau, không lên xuống nhiều và không nghe rõ âm ‘cu’ như cu gáy:

    https://www.xeno-canto.org/species/Streptopelia-tranquebarica

    Cuốc

    Thơ

    Bao giờ em quên? – Duyên Anh

    Bao giờ em quên được hở em?

    Muôn loài hoa bưởi uớp hương duyên

    Có con chim cuốc kêu buồn bã

    Bắt cả không gian ngậm nỗi niềm.

    Nghe tiếng cuốc kêu – Phùng Quán

    Chắc có điều chi bi thương lắm

    Không bày giải được nên phải kêu

    Đêm mất ngủ, nghe cuốc kêu đứt ruột

    Lòng những bàng hoàng muốn kêu theo.

    Tiếng cuốc đêm – Trần Thị Mỹ Châu

    Thu đi để lá vàng rơi

    Người đi để lại tả tơi tình sầu

    Thương thay tiếng cuốc đêm thâu

    Bắc Nam một nỗi lo âu buồn phiền

    Ngày ngày chôn giấu niềm riêng

    Đêm đêm thổn thức nợ duyên ngậm ngùi.

    Tình về bến đỗ – Thiên Lý

    Như cuốc cuốc từng đêm kêu mòn mỏi

    Như oanh oanh buồn bã ngóng tình quân

    Dòng thời gian luân lưu mãi không ngừng

    Có dừng lại cho ta ngày hội ngộ?

    Đêm nhớ – Nguyễn Hoàng Phúc

    Đêm nghe tiếng cuốc kêu thương

    Người đi biền biệt, còn vương bóng hình

    Lòng ta nặng trĩu tâm tình

    Sầu đêm lẻ bóng một mình ai hay?

    Truyện ngắn

    Nhạc chim – Ma Văn Kháng

    … Còn dĩ nhiên là ban đêm thì đã có con cuốc cầm canh, nó khiến cậu thi thoảng lại rơi vào cơn khắc khoải vì giật mình tỉnh giấc. Ôi! Những com chim đồng quê. Niềm vui thời ấu thơ của cậu bé Biền!

    Truyện dài

    Mảnh đất lắm người nhiều ma – Nguyễn Khắc Trường

    … Ông bố nghe có người xui: suốt mùa hè năm ấy cứ đi rình để bắt con chim cuốc thất tình. Họ bảo có những con chim cuốc bị người ta đánh bẫy mất bạn tình, buồn, nó không ăn không uống, tìm một chỗ khuất lói đứng kêu xà xã cho đến chết. Câu nói ra rả như cuốc kêu chính là chỉ những con cuốc đơn côi này…

    Loài điểu học: cuốc ngực trắng – white-breasted waterhen (Amaurornis phoenicurus)

    Khi tác phẩm văn hóa–nghệ thuật chỉ nêu một tên đơn giản “cuốc” hoặc “chim cuốc” thì rất có thể đó là loài cuốc ngực trắng vốn rất quen thuộc với người Việt do sự phân bố rộng rãi trên mọi miền đất nước.

    Cuốc ngực trắng thuộc họ Gà nước (Rallidae).

    32 cm. Phía trên và hai hông chủ yếu màu xám sẫm; mặt, cổ và ngực màu trắng; bụng và mặt dưới của đuôi màu nâu vàng. Ngón chân dài, chân màu vàng; đuôi ngắn, mỏ màu lục nhạt, có một mảng màu đỏ gần khóe mắt. Chim non: toàn thân đen tuyền, rất giống gà nước non. lưng đen, ngực trắng, bụng nâu hồng.

    Ở Việt Nam, cuốc ngực trắng là loài định cư, phân bố rộng rãi, thường sống ở các vùng đồng bằng, trung du, đôi khi vào gần khu dân cư ở vùng ngoại ô.

    Cuốc ngực trắng sống trong bờ cây, bụi rậm quanh khu vực đầm lầy, làm tổ trên chỗ khô ráo của mặt thảm thực vật đầm lầy, đẻ 6-7 trứng. Thăm dò tìm mồi bằng cách nhúng mỏ xuống vũng bùn hay vùng nước nông, và mổ thức ăn nhờ thị giác tốt. Cũng lục lọi tìm kiếm thức ăn trên mặt đất hay trong các bụi cây thấp và các cây gỗ nhỏ.

    Loài cuốc ở Việt Nam khá ồn ào, đặc biệt là lúc bình minh và chạng vạng tối. Tiếng kêu của cuốc chỉ gồm những âm thanh mà người ta nghe như là ‘quốc’ hoặc là ‘cuốc’ vang lên đều đều (không thay đổi cách quãng dài ngắn) và đơn điệu (không lên xuống).

    Cuốc đã được thuần dưỡng và cho sinh sản thành công. Do thói quen kêu thảng thốt và nhảy đến tấn công người lạ, cuốc được nuôi nhằm đánh động khi có người lạ đến.

    Tiếng kêu của cuốc: có phải thật sự tạo những ý tình “buồn bã”, “khắc khoải”, “bi thương”, “nghe đứt ruột”, “lo âu buồn phiền”… như thi văn miêu tả? Phải chăng thi văn đương đại bị ảnh hưởng từ câu thơ “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” của Bà Huyện Thanh Quan? Đã có những tranh cãi về “con quốc quốc” này. Nhiều nguồn cho rằng đó là con cuốc, nhưng không ít ý kiến cho rằng đó là đỗ quyên, một phần dựa theo điển tích Vua Thục Phán ngày xưa vì nỗi uất ức khi mất nước mà chết hóa thành đỗ quyên (nói rằng hóa thành cuốc thì không đúng theo tích này), vì nhớ nước nên thường kêu than nghe cũng giống như ‘quốc quốc’.

    Đỗ quyên là chim gì? Theo Bách khoa toàn thư Baidu (百度百科), đỗ quyên 杜鹃 là tên chung của một số loài chim thuộc chi Cuculus, Họ Cuculidae (Họ Cu cu). Thí dụ: tiểu đỗ quyên 小杜鹃 tức cu cu nhỏ (tên khoa học: Cuculus poliocephalus); đại đỗ quyên 大杜鹃 tức cu cu thông thường (Cuculus canorus). (Vương Trung Hiếu, 2022)

    Rất khó phân biệt hai loài tiểu đỗ quyên và đại đỗ quyên, vì thế có lẽ dân gian gọi cả hai bằng tên chung là đỗ quyên.

    Bửu Kế (1968) mô tả cụ thể đỗ quyên: Chim miệng lớn, đuôi dài, lưng màu tro, bụng sắc trắng, không tự làm tổ lấy mà đẻ trứng vào tổ chim oanh, chim oanh nuôi cho khôn lớn. Mô tả này ứng với hai loài cu cu trên.

    Một số nguồn cho rằng đỗ quyên là chim tu hú Châu Á, tên Hán là táo quyên 噪鹃, cũng thuộc Họ Cu cu vốn thường đẻ trứng vào tổ chim khác để chim non sống ký sinh. Nhưng màu lông của tu hú không phù hợp với mô tả của Bửu Kế.

    Tiếng kêu của cuốc ngực trắng chỉ gồm những âm đơn điệu ‘quốc’ lặp đi lặp lại, không tạo cho người nghe cảm nghĩ gì đặc biệt:

    https://www.xeno-canto.org/species/Amaurornis-phoenicurus

    Tiếng kêu của cu cu thông thường gồm hai âm ‘cúc cu’ lặp đi lặp lại đều đặn nghe như “quốc”, vang vọng đi xa, dễ gây xúc động hơn so với tiếng kêu của chim cuốc:

    https://www.xeno-canto.org/species/Cuculus-canorus

    Phải chăng thi văn theo khuôn sáo ước lệ dùng “tiếng cuốc” để diễn tả tâm trạng, trong khi tác giả không biết rằng thật sự tiếng chim cu cu mới gây nên những tâm trạng đó?

    Cuốc lùn / Vỏ vẻ

    Hồi ký

    Hồi ký Sơn Nam

    Gần ven sông, ven biển, nhiều gân đất cao ráo, người Hoa kiều từ lâu rồi biết khai thác để trồng nhãn. Dịp tựu trường, tha hồ ăn nhãn, bấy giờ chỉ có loại nhãn lớn hột; thơm tho ngọt ngào đối với người ở U Minh, xứ không bao giờ thấy cây nhãn. Lại còn các loại chim ở đồng lúa vùng nước ngọt, nay hãy còn như ốc cao, vỏ vẻ, chằng nghịt, cuốc.

    Truyện dài

    Bãi gió cồn trăng – Hồ Trường An

    Mâm mặn ê hề món phổ thông: cháo gà và gỏi gà trộn rau răm, thịt vịt nấu cà ri ăn với bún, tôm nướng trộn gỏi bồn bồn, chim vỏ vẻ, chim ốc cao rô ti với nước dừa xiêm, cá đuối xào với cải rổ tưới tương hột…

    Loài điểu học: cuốc lùn – Baillon’s crake (Zapornia pusilla, Porzana pusilla)

    Rất có thể tên “vỏ vẻ” là biến thể của một tên khác trong dân gian là “gỏ ghẽ”, để gọi tên chim theo điểu học là cuốc lùn.

    Thân dài 19 cm. Là loài gà nước rất nhỏ, bộ lông màu nâu-xám và có nhiều vạch đen. Đôi khi bộ lông có nhiều màu lẫn lộn. Bay thấp với cánh đập ‘vù vù’ và chân để thõng; lộ rõ một mảng lông mút cánh có màu xám bạc và ở một số con còn có một vệt dài màu trắng chạy theo mép cánh. Phía bụng của chim non có màu nhạt hơn, một số không có vằn.

    Đây là loài di cư, gặp không thường xuyên ở vùng Đông Bắc đến Nam Bộ ngoại trừ Bắc Trung Bộ.

    Sống ở vùng đầm lầy nước ngọt, bãi lau sậy. Thường sống chui lủi. Bơi và lặn giỏi.

    Tiếng kêu đa dạng: từng âm đơn lẻ ‘réc’ hoặc ‘k…rẹc – k…rẹc’ hoặc nhiều âm liền nhau tựa như tiếng của két:

    https://www.xeno-canto.org/species/Porzana-pusilla

    Cú / Cú mèo

    Thơ

    Bài ca đêm và câu chuyện vụn vặt về nguồn sáng – Nguyễn Nhựt Hùng

    Vách cót tự cót két

    Leo lét ánh đèn mờ

    Cây hát bài ca ếch

    Lũ cú mèo nằm mơ

    Đêm tìm trăng – Lã Thế Phong

    Em mang trăng giấu đã lâu

    Ngân hà kia vỡ ngàn sao lập lòe

    Cú mèo giương mắt tròn xoe

    Hỏi em có trả trăng thề lại không…

    Truyện ngắn

    Tiếng chim buổi sớm – Huy Phương

    Ở trên đời này ai cũng ghét giọng con chim cú, nhất là chim cú kêu nửa đêm, để người ta miệt thị là “cú dòm nhà” hay “cú kêu nhà bệnh”. Cũng là loài chim, nhưng chúng lại không có tiếng hót của trời cho, mà chỉ có tiếng kêu như giống ngan ngỗng tầm thường.

    Cú vẫn còn kêu – Trần Quang Khanh

    Đêm hôm sau, rồi hôm sau nữa, tiếng cú vẫn âm vọng trong vườn nhà tôi. Sớm hơn và nhặt hơn. Tôi đã cố tình giả lơ nhưng vợ tôi lại luôn bồn chồn. Cô thúc giục tôi mang đèn pin đi đuổi cú. Dò theo tiếng kêu, tôi soi đèn khắp các ngóc ngách trên cây lộc vừng cổ thụ. Và tôi đã phát hiện con cú mèo nép mình nơi một chạc cây.

    Lần đầu tiên trực diện với cú, tôi khiếp hãi như có một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng mình. Khác với bao loài chim, đôi mắt cú tròn xoe lại nằm ngay phía trước mặt giống như con người. Quanh đôi mắt là hai vòng tròn rộng trông như gương mặt các cụ già đeo kính. Đôi mắt ấy phản chiếu ánh sáng của đèn pin đỏ rực nhìn chòng chọc vào tôi.

    Thương quá rau răm – Nguyễn Ngọc Tư

    Hôm ấy, trưởng ấp Tư Mốt tuyệt vọng nắm chặt hơi thở cuối của ông bạn láng giềng trong tay, tuyệt vọng thấy nó tan đi, ông về nhà viết lên tường trạm xá “Cương quyết chỉ chết vì già.”

    Nhân viên y tế nào mới về ngó câu khẩu hiệu ấy cũng cười, cũng thương. Nhưng rồi nửa khuya ngồi ăn mì gói, nghe cú kêu lẫn tiếng radio khọt khẹt (để chút âm thanh đấy cho đỡ quạnh), vạch đi vạch lại tờ báo cũ mèm, họ sực nhớ phải về quê lấy vợ, lấy chồng, sực nhớ vợ mình mới sinh, sực nhớ tội nghiệp ba má đã già… Và họ từ giã cù lao.

    Tài liệu

    Cú mèo

    Tập tính ăn thịt cùng tiếng kêu rờn rợn vào buổi tối, đặc biệt là những lúc đêm khuya khiến không ít người áp đặt quan niệm rằng cú mèo gắn với sự xui xẻo hoặc cảnh báo điềm gở, thậm chí có người còn cho rằng tiếng kêu ấy là tiếng gọi vong hồn từ một nơi xa xăm. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu động vật Phùng Bá Thịnh, tiếng kêu ấy chỉ đơn thuần là dấu hiệu báo mùa sinh sản của cú mèo nhằm gọi bạn tình hay để khẳng định vùng lãnh địa. Cú mèo kêu suốt đêm cho đến khi bạn tình xuất hiện mới nguôi. Khi bắt đầu một buổi tối kiếm ăn, chúng cũng cất tiếng kêu nhưng âm thanh này thường ngắn hơn so với tiếng kêu trong mùa sinh sản.

    https://www.thiennhien.net/2012/04/30/cu-meo/

    Loài điểu học: cú mèo khoang cổ – collared scops owl (Otus lettia, Otus bakkamoena)

    Cú mèo khoang cổ thuộc Họ Cú mèo (Strigidae), là một trong hai họ cú thuộc Bộ Cú (Strigiformes). Ở Việt Nam có 15 loài cú mèo này.

    Các loài cú mèo có mắt to, mỏ quặp, móng vuốt dài và khỏe. Chim trống và mái giống nhau. Bay rất im lặng; cánh bầu và rộng. Cú mèo hoạt động chủ yếu vào ban đêm và sống tập trung tại các khu vực làng mạc, bìa rừng. Thường ngủ ở chỗ rậm rạp vào ban ngày. Chúng làm tổ trong các hốc cây, đôi khi trên cả vách tường, dưới mái nhà. Chúng ít khi thay đổi khu vực kiếm ăn lẫn nơi sinh sống trừ phi có sự xáo trộn đặc biệt.

    Cú mèo khoang cổ có thân dài 23-25 cm. Chim mái thường lớn hoăn và nặng hơn chim trống. Đây là loài cú có kích thước trung bình. Sắc lông đa dạng: lưng có nhiều chấm đen trên nền xám hoặc nâu; bụng nhạt hơn và có vằn đậm trên nền xám hoặc nâu tùy phân loài. Mặt có viền đen chung quanh. Có hai vành tai nhưng đôi khi không thấy rõ. Tuy mang tên “khoang cổ” nhưng khoảng lông nhạt quanh phần dưới cổ có khi không thấy rõ. Giò có lông vũ bao phủ.

    Đầu có thể quay tới 270 độ. Đó là do sự kết nối giữa các động mạch cánh và động mạch đốt sống, giúp máu trao đổi giữa hai mạch máu, vì thế lượng máu đến não không bị gián đoạn khi loài cú quay đầu 270 độ.

    Loài định cư phổ biến ở Việt Nam. Thích sống ở rừng thưa từ đồng bằng lên chân đồi. Hoạt động về đêm; ban ngày ít thấy vì thường đậu không cử động trong tán cây rậm rạp.

    Thường làm tổ ở chùa chiền, nhà và sân vườn đặc biệt là ở vùng nông thôn, thậm chí đô thị.

    Tiếng kêu: từng âm đơn lẻ và ngắn ‘hu-ố’, nhắc đi nhắc lại mỗi 8-12 giây.

    Bản thân người tổng hợp bài này nghe tiếng cú mèo không có vẻ gì là rờn rợn.

    Tiếng kêu:

    https://www.xeno-canto.org/species/Otus-lettia

    Cú lợn

    Thức trót canh tàn: con chim cú, chim heo

    Truyện ngắn

    Cửa sau – Nguyễn Ngọc Tư

    Đêm đầy sao, mở cửa sau chợt hương bông cau, bông bưởi ùa vào đầy ứ mũi. Muốn thở chỉ sợ hương tan. Nghe con chim heo kêu nghe sợ mơ hồ, chạy cuống chạy cuồng qua cửa rồi mà hương vẫn còn theo. Cửa sau, với mình, ít nhiều mang cảm giác thiêng liêng của sự đầm ấm, sum vầy. Cho nên nhớ hoài, nhớ mãi, nhớ không thôi. Cái số mình, thầy bói nói, là số giang hồ, giang hồ vặt.

    Trăng góa – Lê Minh Hà

    Những đêm khác, tôi nằm nghe thằng con thở. Thức qua đêm nhiều hôm, tôi quen dần với tiếng chim lợn kêu cữ hai giờ sáng. Tiếng chim quái gở, eng éc giữa trời thành phố hồi đầu làm tôi thấp thỏm suốt cả ngày hôm sau. Người ta bảo chim lợn không mang điều lành. Ðiều dữ nhất đối với đời đàn bà của tôi đã xảy ra rồi. Tôi hết sợ. Chắc chim lợn cũng là loài chim mất ngủ…

    Đồng dao / Vè

    Tiếng con chim ri

    Gọi dì, gọi cậu

    Chim lá rụng là tên dân gian được nêu trong bài vè ở đầu bài này:

    Ham đậu cheo leo, là chim lá rụng

    Cũng trang web ghi bài vè này cho chú thích như sau:

    Chim lá rụng: Một loại sẻ đồng nhỏ hơn sẻ nhà, lông màu nâu nhạt, ăn thóc lúa.

    https://cadao.me/ve/ve-chim-choc/#note-1943

    Thơ về chim di

    Buồn – Liên Hương & Lê Phú Hải

    Đừng như cánh nhỏ chim di

    Bay xa cuối trời động vọng

    Buồn – ôi mệt nhoài chiếc bóng

    Ai ngồi áo mỏng hiên xưa

    Cảm hoài – Trúc Giang

    Bạt cánh chim di không để dấu

    Còn chăng thăm thẳm cõi sầu vương

    Chiều qua phố cũ – Mạc Phương Đình

    gót nhỏ ngập ngừng qua phố cũ

    chiều mưa ướt đẫm cánh chim di

    lang thang chiếc lá theo nguồn gió

    người ở phương nào? hỡi cố tri…

    Thơ về chim lá rụng

    Mơ mùa chim lá rụng – Diệp Ly

    Hương lúa đồng nhẹ thoảng giữa trời đêm

    Tìm trong mơ một mùa chim lá rụng

    Mơ tìm về ngày tháng đã xa xôi

    Giữa đêm đen mơ trôi về quá khứ

    Có đàn chim chập chờn trong miền nhớ

    Gợi trong lòng một thuở tuổi hồn nhiên.

    Thơ về rồng rộc

    Tình thầm – Phạm Thiên Thư

    sáng cùng anh em

    vào non đẵn trúc

    về cất lều tranh

    bên dòng suối lục

    rồi qua nương trà

    bẫy chim dồng dộc

    đêm khuya rượu cần

    nhóm lửa tán dóc

    Cánh chim báo bình yên – Trương Hoàng

    Tuổi thơ tôi dòng sông bãi cát

    Vắt vẻo lưng bò nghe chim hát trên cao

    Dồng dộc mùa vàng mắc võng tàu cau

    Gió thổi nam non cu gù yên ả

    Bút ký về chim di

    Làm sao em nhớ những vết chim di – Nguyễn Hoàn

    Hình ảnh chim di xuất hiện trong ca khúc lừng danh Diễm xưa, ca khúc đánh dấu kỷ niệm mối tình của Trịnh Công Sơn với Ngô Vũ Bích Diễm (chị ruột của Ngô Vũ Dao Ánh):

    Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động,

    làm sao em nhớ những vết chim di.

    Đặc biệt, hình ảnh chim di còn được Trịnh Công Sơn nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các trang thư tình gửi Dao Ánh, cho thấy bao nỗi niềm, bao dư chấn buồn đau của Diễm xưa còn trút gửi cả cho Dao Ánh: “Ánh rồi cũng làm loài chim di xám bỏ miền giá buốt này mà đi. Lúc đó anh chỉ còn ngồi nghe một lời bể động” (Thư Sài Gòn, 28/9/1964), “Tuy nhiên cũng không thể không buồn khi nhớ đến những vết chân chim di một lần cất tiếng hót cho mình và đã bay đi biền biệt” (Thư Blao, 27/10/1964). Vậy chim di là loài chim gì, sống ở đâu? Nhà thơ Phạm Tiến Duật kể: “Có một lần, khi nghe bài Diễm xưa, tôi bảo Trịnh Công Sơn rằng có một câu phải sửa, là câu này: “… Làm sao em nhớ những vết chim di”.

    Cả bài không nói tới một tên hoa, tên lá, tên chim nào, hà cớ gì lại có chim di! Có lẽ nên đổi là “chim đi”, chỉ nói đến vết chân chim, là đủ. Trịnh Công Sơn bảo rằng không sửa được, vì đấy là kỷ niệm riêng. Sơn nói về Huế nhưng viết ở Nha Trang. Ở Nha Trang mới có loài chim di giỡn sóng. “Lũ chúng ta cũng chỉ như loài chim di giỡn sóng ở giữa đời này”.

    Như vậy, chim di dùng để chỉ những hình ảnh bay biến bất thường, không nắm bắt được, không cầm giữ được, giống như tình yêu mong manh vụt biến. Khái quát hơn nữa, chim di còn chỉ sự vô tăm tích của kiếp người trong cõi phù thế.

    Bút ký về chim lá rụng

    Mùa chim lá rụng – Nguyễn Hoàng Ân

    Sáng sớm khi sương tan, nhìn lên bầu trời, chim lá rụng bay về kín bầu trời, từng thấp sà xuống ruộng, cao một tí là ruộng kế bên, cao tích có lẽ đáp xa hơn. Chim tìm những hạt lúa rơi lại kêu liếu tiếu. Tiếng kêu nhỏ như gọi nhau. Không ồn ào. Con trống lông vàng đậm, có viền đen từ mí mắt đến tận sau gáy. Con mái vàng lợt, đuôi ngắn. Bọn tôi ngồi xem đến trưa.

    nổi tiếng với đặc sản mía Kim Tân: Kim Tân là thị trấn – trung tâm trao đổi mua bán sầm uất của huyện Thạch Thành. Nơi đây nổi tiếng với những đồi mía trải dài bất tận, vào mùa thu hoạch mía người dân thường tập trung về thị trấn mua bán, từ đó cái tên mía Kim Tân ra đời.

    Cũng nhờ có những cánh đồng mía trải dài bất tận mà loài chim mía có nơi trú ngụ và sinh trưởng, tạo cho nơi đây có thêm một nguồn lợi là đặc sản chim mía Thạch Thành: Chim mía là một món ăn đồng quê, sở dĩ thành món đặc sản vì nó ngon và rẻ… bất ngờ.

    http://thanhhoa.tintuc.vn/am-thuc/dac-san-chim-mia-thach-thanh.html

    Chim mía đặc sản Bình Định…

    … chim mía chính hiệu là loại chim có đầu nhỏ, mỏ ngắn, thịt chắc mà ngọt. Chúng dễ bị lầm với một loài khác là chim áo già (áo đà) là loại chim đầu to, mỏ dài, thịt nhạt…

    https://diadiemdulich.com/am-thuc/chim-mia-dac-san-binh-dinh.html

    Chim mía: Một loài chim nhỏ hơn chim sẻ một ít, bộ lông màu lá úa, sống thành từng đàn trong những ruộng mía, mỗi đàn đông tới cả ngàn con.

    https://cadao.me/chu-thich/chi-tiet/2825/

    Truyện dài về sắc ô

    Chim phóng sinh – Nguyễn Hồ

    Sân chùa Vĩnh Nghiêm tràn ngập khói hương, người đông như kiến cỏ. Người giàu và nghèo, người sang và người hèn, người đi cúng chùa và người dạo chơi. Tất cả những người rất khác nhau ấy đều có một điểm giống nhau: ai cũng muốn mua ít nhất là một cặp chim sắc ô, chim sẻ, chim sâu để phóng sinh, cầu phước, cầu may chơi…

    Truyện ngắn về nhiều loài chim

    Nhạc chim – Ma Văn Kháng

    Tất nhiên cao giá nhất thì phải là họa mi, nhồng, cưỡng, bạc má, hồng tước… Còn bình thường thì có thể kể cả ngày không hết. Nào hoành hoạch, mỏ chì, nào bạch khuyên, vàng ảnh vàng anh có phải vợ anh chui vào tay áo… Mỗi loài nó hót một kiểu. Sớm bửng thì tất nhiên đã có con họa mi dáng quả vả, mắt như có ánh lửa và cặp chân như của vũ nữ, chẳng khi nào chịu ở yên.

    * * *

    Mỏ chì là tên một số địa phương gọi chim di bởi vì màu mỏ xám và bóng giống như chì. Cưỡng là tên gọi tắt của cà cưỡng.

    Xem các mục sau đây để tìm hiểu về loài chim tương ứng: Bạc má, Hoành hoạch, Họa mi, Hồng tước, Nhồng / Yểng / Sáo đá, Vàng anh.

    • Chim lá rụng là một loại sẻ đồng, nhỏ hơn sẻ nhà, lông màu nâu nhạt.
    • Chim lá rụng nhỏ như ngón tay cái người lớn, lông màu nâu nhạt.
    • Chim lá rụng trống lông vàng đậm, có viền đen từ mí mắt đến tận sau gáy. Con mái vàng lợt, đuôi ngắn.
    • Chim lá rụng lớn hơn chim sẻ một chút, lông màu vàng, ức màu vàng tươi, tiếng kêu vui tai.
    • Chim lá rụng còn được gọi là chim mía.
    • Chim lá rụng chính là dồng dộc.
    • Chim mía nhỏ hơn chim sẻ một ít, bộ lông màu lá úa.
    • Chim mía nhỏ hơn con chim sẻ, mình thon, chân nhỏ với sắc lông màu xám.
    • Chim mía chính hiệu là loại chim có đầu nhỏ, mỏ ngắn.
    • Theo một số hình ảnh và mô tả khác, chim mía là dòng dọc (rồng rộc), có nhiều ở Thanh Hóa, Bình Định và Quảng Ngãi.

    Vì lẽ ý niệm trong dân gian không thống nhất, ta có thể suy ra chim lá rụng và chim mía thuộc về ba loài chim phổ biến ở Việt Nam và phù hợp với các mô tả: di cam, rồng rộc và sẻ đồng. Cần ghi nhận là nhìn từ xa, chim chưa trưởng thành và chim mái của ba loài này khá giống nhau, vì thế việc nhầm lẫn giữa các loài là điều dễ hiểu.

    Thế là, trong khi có nhiều tin tức và hình ảnh về đặc sản ăn nhậu chim lá rụng và chim mía, ý niệm lãng mạn về chim di của Trịnh Công Sơn thoát ra khỏi những hoạt động trần tục!

    Loài điểu học: di cam – white-rumped munia, striated finch (Lonchura striata)

    Di cam còn được gọi là chim ri, chim sắt, mỏ chì, sắc đen, hoặc sắc ô. Di nói chung thuộc Họ Di (Estrildidae), gồm những loài chim nhỏ, từ xa nhìn trông giống sẻ nên có thể bị ngộ nhận với sẻ đồng, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy mỏ dầy hơn và thường có màu chì. Thường bị bắt để bán làm chim phóng sinh.

    Di cam có thân dài 11 cm, có điểm đặc biệt so với các loài di khác là khoảnh lông trắng gần phao câu. Không thể phân biệt trống mái. Chim trưởng thành: Lưng từ nâu sáng đến nâu tối (đôi khi gần như đen) có vạch nhỏ, hông trắng, đuôi đen, ngực màu nâu có vân mờ. Chim non: Nhạt màu hơn, hông không hoàn toàn trắng.

    Loài định cư phổ biến toàn cõi Việt Nam. Luôn đi theo đàn.

    Sống ở gần nguồn nước nơi có cây bụi thứ sinh, đồng cỏ, vùng trồng trọt và những chỗ trống trải khác, có thể gặp lên đến độ cao khoảng 1.800 mét. Tìm ăn tảo xanh xoắn Spirogyra trong ruộn lúa để lấy chất đạm.

    Di cam làm tổ bằng những cọng cỏ bện lại một cách lộn xộn trên cây, bụi rậm gần nguồn nước, rồi đẻ 3-8 trứng. Cũng thường dùng tổ của rồng rộc đã bỏ trống. Tổ rồng rộc khang trang và an toàn hơn hẳn!

    Hình ảnh và tiếng kêu:

    https://www.birdwatchingvietnam.net/bird/white-rumped-munia-286

    Loài điểu học: rồng rộc – Baya weaver (Ploceus philippinus)

    Nguyễn Cử et al. (2000) chỉ trình bày một loài rồng rộc ở Việt Nam, mang tên đơn giản theo dân gian là rồng rộc.

    Rồng rộc hoặc dòng dọc thuộc Họ Rồng rộc (Ploceidae) gồm các loài chim nhỏ có hình thái tương tự chim sẻ, ăn hạt với mỏ hình nón thuôn tròn. Các loài rồng rộc có kỹ năng làm tổ cầu kỳ phức tạp, có lẽ là phức tạp nhất trong các loại tổ chim, cho thấy sự khéo léo cao độ.

    Vì phải ủ ấm và bảo vệ trứng chống mưa gió, cú vọ, rắn rết… nên tổ rồng rộc trông như những chiếc túi hình chuông, bên hông phình ra, nối liền với một cái ống tròn, dài khoảng 10-30 cm, hướng xuống phía mặt đất tạo cửa ra vào. Tổ của rồng rộc có phần hình ống kéo thẳng xuống dưới khá dài, là đặc điểm khác với tổ của các loài rồng rộc khác. Tổ thường được treo dưới những cành cây mảnh của sao, bần, gừa, đa, sộp, tràm hoặc các bụi cỏ voi. Tổ làm thành tập đoàn: một cây có thể có nhiều tổ.

    Rồng rộc có thân dài 15 cm. Trông tương tự sẻ thường, nhưng bộ lông có sọc đậm, mỏ khỏe, cơ thể nói chung có màu nâu-vàng. Chim trống có mặt nạ màu đen, đỉnh đầu và ngực vàng tươi. Chim mái: màu nhạt hơn.

    Sống quanh đồng ruộng, vùng trồng trọt và cây bụi. Thường ngủ tập đoàn trong các bãi lau sậy. Thức ăn là các hạt, kể cả lúa giống do con người gieo trồng (nên thường bị xem là loài phá hoại), cũng ăn côn trùng, ếch nhỏ và loài nhuyễn thể.

    Loài định cư và kiếm ăn theo đàn, khi xưa phổ biến nhiều nơi ở đồng bằng Bắc Bộ, và từ Trung Trung Bộ đến Nam Bộ. Hiện nay chỉ còn thưa thớt, do quá trình đô thị hóa, mất môi trường sống, và săn bắt hàng loạt.

    Di đá

    Truyện ngắn

    Chim chích lạc rừng – Tô Hoài

    Ít lâu nay, có một loài lạ lạc vào vườn. Anh chim sẻ xưa nay vẫn to hó đứng trong đầu nhà, kêu tẹc tẹc không được điềm tĩnh và đều đặn như mọi khi. Ra vẻ thảng thốt. Như thể lo rằng có những kẻ lạ nào đương dò dẫm, tìm kiếm nơi ăn chốn ở trong vườn nhà mình.

    Quả đúng như nỗi lo của sẻ.

    Có hai con chim ri đá, mấy bữa rày thường lai vãng đến vườn. Chúng nhấm nhoắt chuyền từ cây bưởi sang cây khế, đến cành hồng bì. Sẻ ta đứng băn khoăn trên nóc đầu hồi, nhớn nhác nhìn, ra điệu ghét lắm.

    Loài điểu học: di đá – scaly-breasted munia, spotted munia (Lonchura punctulata)

    Tên “ri đá” là biến thể của “di đá”, thuộc Họ Di (Estrildidae).

    Thân dài 11-12 cm. Chim trưởng thành: đặc điểm để phân biệt là ngực và bụng màu trắng có hoa văn giống vảy cá đúng theo tên tiếng Anh, mầu nâu. Đầu từ nâu sạm đến đen, lưng từ nâu-cam đến nâu cà phê sữa. Trống mái giống nhau. Chim non: Nâu trơn, không có vảy.

    Có khoảng 11 phân loài có kích thước và màu lông khác nhau đôi chút.

    Loài định cư phổ biến khắp các vùng. Có thể gặp lên tới độ cao gần 1.700 mét. Di chuyển theo đàn đông, kêu liên tục khi bay ‘piu piu’ lặp đi lặp lại, thỉnh thoảng có lẫn loài di khác vào đàn. Trong khi bay có thể vẫy đuôi và cánh theo chiều dọc hoặc theo chiều ngang, có lẽ để thông tin cho nhau.

    Sống ở khắp các vùng cây bụi, nơi trồng trọt và đồng ruộng, kiếm ăn ở bãi cỏ. Các đôi trong đàn làm tổ kế cận nhau, thưởng rỉa lông cho nhau. Di đá rất dạn dĩ và cũng thích sống gần con người như chim sẻ.

    Diều

    Thành ngữ

    Lên như diều / Như diều gặp gió

    Truyện ngắn

    Tháng chạp chim về – Sơn Nam

    Lông chim bán cho ghe buôn từ Hải Nam đến. Họ mua về để kết quạt. Giá thị trường như sau:

    – Lông bồ nông một bó một quan.

    – Lông thằng bè, già sói thì hai quan mỗi bó.

    Mỡ chim thì đem về nấu dầu như trên kia đã nói. Thịt chim đem xào sả nghệ, nước cốt dừa ăn cũng ngon ngon. Nhưng ai mà ăn cho hết? Có thể muối phơi khô. Thời bấy giờ, không ai cần làm chuyện đó. Họ thảy bỏ xác chim dưới sông cho diều, cho quạ…

    Bà cụ Cần và bầy chim sẻ – Ma Văn Kháng

    Bà cụ Cần, một người đàn bà nhà quê, tính tình hóm hỉnh, thực tình chỉ quan tâm đến con quạ, gã lang thang ranh mãnh, chuyên ăn trộm trứng gà; và sau nữa là con diều hâu, tên biệt kích mặc áo nâu, cao thủ trong nghề bay liệng, chuyện bắt cóc gà con. Diều hâu mày lượn cho tròn. Đến mai ta gả gà con cho mày.

    Bảy ngày ngà ngọc – Hoàng Lan Chi

    Nàng nhìn quanh. Bao giờ những vuông lúa dợn sóng, những cánh cò bay lả, những cánh diều vi vu… đều làm nàng yêu thích.

    Bí ẩn của tình yêu – Phan Cao Toại

    Nàng chịu khó tảo tần. Rồi đến lúc nước nhà mở cửa, nàng phất lên như diều gặp gió.

    Nước cờ tình – Phan Cao Toại

    Dân ghiền đá gà trong huyện nghe nói có trận đá gà rất lạ liền đổ về tiệm thuốc Lê Hữu Phúc nườm nượp. Vòng trong vòng ngoài. Không ai dám đặt cược vì họ tin phần thắng sẽ thuộc về con Ác Điểu của cô Hòa. Nó vạm vỡ đứng trong chiếc lồng tre, vươn cánh ra hai bên đi thủng thẳng từng bước trông thật oai vệ. Chiếc mỏ khoằm như mỏ diều hâu.

    Mối tình năm cũ – Nguyễn Ngọc Tư

    Tối sau Trần Hưng rủ thêm vài người tới nhà dì Thấm, anh không quên xách theo chai rượu với mớ khô cá kèo mua đằng đầu xóm. Anh nghĩ con người này không dễ thuyết phục đâu, đem rượu lại coi có mở lòng ổng ra được không. Nhưng anh lầm, càng uống ông Mười càng im lặng. Nhậu đã đời, cả đám cà xình cà xang về chỗ trụ sở ấp văn hóa mà không nói được gì hết, không thể nói. Trần Hưng nằm ngẫm nghĩ, thấy vừa rồi mình giống như con diều hâu ngồi nhậu với một con gà trống đang xù lông thủ thế bảo vệ vợ con nó.

    Thõng tay vào chợ – Bạch Lê Quang

    Phố thị là đất hứa nhưng cũng là đất hiểm. Mật nhiều mà ruồi cũng không ít. Buổi ấy hắn phất nhanh như diều gặp nồm nam.

    Loài điểu học: diều hâu – black kite (Milvus migrans)

    Đây là loài trong Họ Ưng (Accipitridae) có phân bố rộng nhất trên thế giới nhờ tính thích ứng cao, vừa săn mồi sống vừa ăn thịt thú chết. Khi văn học–nghệ thuật chỉ đề cập đến tên “diều” thì rất có thể đó là loài diều hâu.

    Thân dài trung bình 60 cm. Lưng nâu sậm, đầu và cổ nâu nhạt hơn, bụng nâu-xám có vệt trắng nhạt hay hung, chót đuôi hơi xẻ hoặc thẳng ngang, chân vàng nhạt. Trống mái giống nhau; trống hơi dài hơn. Khi bay thấy sải cánh dài có góc cạnh, đuôi gập và xoắn lại trông như một bánh lái. Chim non: lưng nâu nhạt hơn, chân lục nhạt, có các sọc màu nâu sẫm chạy dọc.

    Mỗi ngày thường bay nhiều giờ, bay nhẹ nhàng và lơ lửng ở trên không, nương theo luồng khí nóng tỏa lên từ mặt đất để lướt và bay vút lên cao thành từng vòng.

    Thường gặp tụ tập theo đàn, cũng làm tổ gần nhau theo đàn. Tìm kiếm mồi trên mặt đất. (Ngày tôi còn nhỏ, thường nghe chuyện diều hâu đáp xuống bắt gà con ở quê nhà Vĩnh Long; trông lên trời luôn thấy một vài con diều hâu bay lượn từng vòng.)

    Đẻ 2, 3 trứng, nở sau 30-34 ngày. Chim non lớn thường cắn mổ chim non nhỏ có khi đến chết, nhưng diều cha mẹ thường mớm mồi nhiều hơn cho chim non nhỏ. Đây là đặc tính khác với nhiều loài chim ăn thịt khác: chỉ mớm mồi theo ngẫu nhiên và chim non mạnh hơn thường chiếm nhiều thức ăn hơn.

    Loài định cư phổ biến toàn cõi Việt Nam.

    Sinh cảnh sống: Vùng ven biển, sông, bến cảng, đồng ruộng, làng mạc và thành phố.

    Diệc

    Ký sự

    Địa ngục của chim trời – Vũ Mừng

    … ở đây còn có cả giống diệc mỏ vàng, lông bạc lấp lánh, sải cánh dài tới hàng mét, được kẻ bán trưng ra ngay trước những sạp hàng… Hai chân bị buộc cứng, từng đôi diệc hoảng loạn vỗ cánh liên hồi. Đây cũng là cách mà kẻ bán dùng để thu hút mời chào khách qua đường.

    Loài điểu học: diệc xám – grey heron (Ardea cinerea)

    Theo mô tả và hình ảnh, “diệc mỏ vàng” là diệc xám, thuộc Họ Diệc (Ardeidae), cao 90-110 cm, cân nặng 1–2 kg. Bộ lông màu xám nhạt dễ nhận biết, gáy có lông dài, trước cổ có vân đen và trắng. Chim non: màu xám đậm hơn, ít họa tiết hơn, và không có mào lông. Đừng nhầm với loài mà dân gian gọi là “cò xám”, vốn là cò bợ.

    Diệc xám là loài diệc phổ biến nhất ở Việt Nam, định cư ở khắp vùng đồng bằng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ và Nam Bộ, Sống ở hồ, đầm lầy, sông, rừng ngập mặn, rừng tràm, đồng lúa, cửa sông, các vùng đất ngập nước khác.

    Làm tổ theo đàn gần nhau trong tán cây cao. Đẻ 3-5 trứng mầu lục nhạt pha lam. Cả chim bố mẹ đều ấp trứng và mớm mồi cho con.

    Diệc lửa

    Ký sự

    Thú vị vườn chim Tư Sự – Băng Thanh

    Anh Ân gắn bó với vườn đã hơn 10 năm, anh thông tin, hiện vườn có hơn 3 ha với gần 20 loài: cò, vạc, còng cọc, bạc má, diệc lửa, diệc xám, điên điển… Chúng sinh sản theo mùa, anh theo đó làm công tác thuần dưỡng con con, kể cả việc chăm sóc khi các con chim non yếu sức, bổ sung nguồn thức ăn, nước sạch, dẫn dụ những loài khác.

    Loài điểu học: diệc lửa – purple heron (Ardea purpurea)

    Thân hình cao 80-95 cm, vì thanh mảnh nên chỉ nặng 0,5-1,35 kg. Vóc dáng tương tự diệc xám nhưng luôn có màu tối hơn và gầy hơn. Thân hình lêu khêu vì cổ rất dài so với thân.

    Khi bay, cổ vặn quá mức đến nỗi bị cong lại, bàn chân duỗi dài hơn. Bộ lông phổ biến có màu nâu hung nhạt, cổ nhỏ như con rắn (khi đậu thường thấy cổ nhô cao trên các bãi đước). Chim non toàn thân màu nâu sẫm hơn, không có mào lông và sọc viền trên cổ.

    Loài định cư và di cư, tương đối phổ biến toàn cõi Việt Nam. Đi ăn một mình.

    Sinh cảnh sống: Vùng đầm lầy, hồ, rừng tràm, rừng ngập mặn và cánh đồng lúa. Gặp làm tổ ở rừng tràm U Minh Thượng, Kiên Giang, và rừng tràm Trà Sư, An Giang.

    Làm tổ bằng thân lau sậy và nhánh cây gỗ gần bờ nước. Đẻ trên dưới 5 trứng màu lam nhạt. Cả chim trống và chim mái đều ấp trứng.

    Dù dì

    Bút ký

    Chim đêm – Tường Linh

    To nhất trong mấy loại chim ăn đêm là dủ dỉ. Nó to hơn một con gà mái đẻ. Ban ngày, phần lớn dủ dỉ ẩn trong núi có cây cao. Thỉnh thoảng, người ta cũng thấy một vài con ngủ ngày trên vòm cao chót vót của cây cổ thụ gần bìa rừng hay nơi xa xóm làng. Nó đi kiếm ăn rất khuya, thường là vào khoảng hai, ba giờ sáng. Nơi nào dủ dỉ xuất hiện, người còn thức biết ngay vì nó kêu liên tục, tiếng kêu trầm, vang xa. Nó thường tìm những đám phân trâu trên đường đi của trâu bò để xơi các con dòi trong đó. Lắm khi nó vào tận chuồng trâu để kiếm ăn.

    Truyện ngắn

    Trên đỉnh non Tản – Nguyễn Tuân

    Chim thủ thỉ thù thì đi gần mãi lại nhau. Chả còn mấy nỗi nữa, đêm sẽ tan canh. Bởi vì tiếng kêu con chim thủ thỉ đực đã gần mãi lại chỗ có tiếng trả lời của con chim thủ thỉ cái.

    Loài điểu học: dù dì phương Đông – brown fish owl (Ketupa zeylonensis)

    Dựa theo tiếng kêu, các tên “dủ dỉ”, “thủ thỉ” và “thù thì” là cách gọi biến thế của dù dì, thuộc Họ Cú mèo (Strigidae).

    Chim trưởng thành: 53 cm. Nhìn chung bộ lông xám phớt nâu hoặc nâu phớt xám với nhiều vệt đen hẹp dọc cơ thể và ở phía trên. Đầu dẹp, hai bên có cánh nằm ngang. Mắt từ vàng đến vàng-cam. Mỏ xám. Chân xám. Chim non: có màu nâu-cam nhiều hơn, các vạch nhỏ và mờ hơn.

    Sống định cư ở các vùng rừng núi và đồng bằng. Thường gặp ở lùm cây rậm ven suối, ao, hồ, đầm lầy và các thủy vực nước tĩnh khác để tìm thức ăn chính là cá, ếch nhái và cua. Sống thành đôi. Thường làm tổ ở kẽ đá, hốc cây, đẻ 1, 2 trứng.

    Phân bố ở một ít nơi từ Bắc Bộ đến Đông Nam Bộ, nhưng số lượng ngày càng ít do nguồn thức ăn ngày càng nghèo kiệt, nhiều thủy vực bị khô cạn, ô nhiễm, rừng bị chặt phá nên số lượng bị giảm sút.

    Đây là loài động vật quý hiếm, được liệt kê vào Sách đỏ Việt Nam để bảo tồn.

    Tiếng kêu đa dạng: từng tiếng hoặc chói tai hoặc trầm gồm 2, 3 âm ‘hu hù’ hoặc ‘hù hú hu’ hoặc ‘hù huýt’:

    https://www.xeno-canto.org/species/Ketupa-zeylonensis

    Xem tiếp Tập 2:

    https://tamdiepblog.wordpss.com/2020/01/17/chim-trong-van-hoc-nghe-thuat-viet-nam-bai-2-trong-2/

    Share this:

    Like this:

    Like

    Loading…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chào Mào 1 Chân
  • Chăm Sóc Chim Chào Mào
  • Chào Mào Thay Lông Cho Ăn Gì Để Lông Mượt, Óng Ả?
  • Kỹ Thuật Ép Giọng Cho Chim Chào Mào Hiệu Quả
  • Manga Volume 12 – 18
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Chim Trong Văn Học–Nghệ Thuật Việt Nam – Bài 1 Trong 2 trên website Lamdeppanasonic.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100