Đề Xuất 12/2022 # Hayabusa (Chim Ưng) (Sinh Học) / 2023 # Top 18 Like | Lamdeppanasonic.com

Đề Xuất 12/2022 # Hayabusa (Chim Ưng) (Sinh Học) / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hayabusa (Chim Ưng) (Sinh Học) / 2023 mới nhất trên website Lamdeppanasonic.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Suzuki Hayabusa (hay GSX1300R ) là một chiếc mô tô thể thao do Suzuki sản xuất từ năm 1999. Nó ngay lập tức giành được giải thưởng là chiếc xe máy sản xuất nhanh nhất thế giới, với tốc độ tối đa từ 303 đến 312 km / h (188 đến 194 dặm / giờ). Năm 1999, lo ngại về một lệnh cấm nhập khẩu hoặc cấm nhập khẩu của châu Âu, dẫn đến một thỏa thuận không chính thức giữa các nhà sản xuất Các điều kiện theo đó giới hạn này được áp dụng đã dẫn đến tiêu đề của Hayabusa năm 1999, ít nhất là về mặt kỹ thuật, không có sẵn, vì không có mô hình tiếp theo nào có thể đi nhanh hơn mà không bị giả mạo. Sau khi chiếc Ninja Ninja ZX-12R được mong đợi nhiều năm 2000 đã giảm 6 km / h (4 dặm / giờ) khi không đạt được danh hiệu này, Hayabusa đã bảo đảm vị trí là chiếc xe đạp sản xuất tiêu chuẩn nhanh nhất của thế kỷ 20. Điều này mang lại cho các mô hình 1999 không bị hạn chế thậm chí nhiều bộ đệm hơn với các bộ sưu tập. Bên cạnh tốc độ của nó, Hayabusa đã được nhiều nhà phê bình khen ngợi vì hiệu suất toàn diện của nó, ở chỗ nó không thỏa hiệp mạnh mẽ các phẩm chất khác như xử lý, thoải mái, độ tin cậy, tiếng ồn, tiết kiệm nhiên liệu hoặc giá cả khi theo đuổi một chức năng duy nhất. Jay Koblenz của Motorcycle Consumer News nhận xét: “Nếu bạn nghĩ rằng khả năng của một chiếc xe máy đạt tốc độ 190 dặm / giờ hoặc đạt được một phần tư trong vòng dưới 10 giây là tốt nhất phù hợp nhất và ở mức tấn công tồi tệ nhất, đây vẫn là một chiếc xe máy đáng để xem xét. Hayabusa là Tốc độ trong tất cả vinh quang của nó. Nhưng Tốc độ không phải là tất cả Hayabusa. ”

(hay) là một chiếc mô tô thể thao do Suzuki sản xuất từ năm 1999. Nó ngay lập tức giành được giải thưởng là chiếc xe máy sản xuất nhanh nhất thế giới, với tốc độ tối đa từ 303 đến 312 km / h (188 đến 194 dặm / giờ).Năm 1999, lo ngại về một lệnh cấm nhập khẩu hoặc cấm nhập khẩu của châu Âu, dẫn đến một thỏa thuận không chính thức giữa các nhà sản xuất Nhật Bản và châu Âu để điều chỉnh tốc độ tối đa của xe máy của họ ở một giới hạn tùy ý. Giá trị phương tiện truyền thông báo cáo cho thỏa thuận tốc độ trong dặm một giờ là liên tục 186 mph, trong khi ở km mỗi giờ nó dao động 299-303 km / h, đó là điển hình đơn vị được chuyển đổi lỗi làm tròn. Con số này cũng có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố bên ngoài, cũng như các giá trị công suất và mô-men xoắn.Các điều kiện theo đó giới hạn này được áp dụng đã dẫn đến tiêu đề của Hayabusa năm 1999, ít nhất là về mặt kỹ thuật, không có sẵn, vì không có mô hình tiếp theo nào có thể đi nhanh hơn mà không bị giả mạo. Sau khi chiếc Ninja Ninja ZX-12R được mong đợi nhiều năm 2000 đã giảm 6 km / h (4 dặm / giờ) khi không đạt được danh hiệu này, Hayabusa đã bảo đảm vị trí là chiếc xe đạp sản xuất tiêu chuẩn nhanh nhất của thế kỷ 20. Điều này mang lại cho các mô hình 1999 không bị hạn chế thậm chí nhiều bộ đệm hơn với các bộ sưu tập.Bên cạnh tốc độ của nó, Hayabusa đã được nhiều nhà phê bình khen ngợi vì hiệu suất toàn diện của nó, ở chỗ nó không thỏa hiệp mạnh mẽ các phẩm chất khác như xử lý, thoải mái, độ tin cậy, tiếng ồn, tiết kiệm nhiên liệu hoặc giá cả khi theo đuổi một chức năng duy nhất. Jay Koblenz củanhận xét: “Nếu bạn nghĩ rằng khả năng của một chiếc xe máy đạt tốc độ 190 dặm / giờ hoặc đạt được một phần tư trong vòng dưới 10 giây là tốt nhất phù hợp nhất và ở mức tấn công tồi tệ nhất, đây vẫn là một chiếc xe máy đáng để xem xét. Hayabusa là Tốc độ trong tất cả vinh quang của nó. Nhưng Tốc độ không phải là tất cả Hayabusa. “

‘Chim Ưng’ Suzuki Hayabusa 2011 Đầu Tiên Tại Việt Nam / 2023

Siêu xe tốc độ trong dòng xe hai bánh, mệnh danh “chim ưng” Hayabusa phiên bản 2011 của Suzuki vừa cập cảng Sài Gòn.

Suzuki Hayabusa 2011 vừa cập cảng Sài Gòn.

Ngay từ khi ra đời, mẫu phân khối lớn Suzuki đã không có đối thủ trên thị trường. Sportbike thuộc diện hàng “hot” của Suzuki được thiết kế cho những tay lái ưa cảm giác mạnh.

Hayabusa kết hợp giữa sức mạnh của khối động cơ 1.340 phân khối với những đường nét thiết kế dạng khí động học tạo ra chiếc xe sản xuất hàng loạt có tốc độ nhanh nhất thế giới. Tốc độ cao nhất được của Hayabusa ghi nhận năm 2007 là 305 km/h.

Phiên bản “chim ưng” 2011 thiết kế bộ khung sườn từ hợp kim nhôm đặc biệt để đảm bảo độ cứng và giảm trọng lượng. Suzuki Hayabusa 2011 có tổng trọng lượng 260 kg.

Hayabusa 2011 sử dụng động cơ 4 thì cam kép DOHC làm mát bằng dung dịch, dung tích xi-lanh 1.340 phân khối. Hệ thống phun xăng và đánh lửa điện tử, cùng hộp số 6 cấp. “Chim ưng” đạt công suất 197 mã lực tại vòng tua máy 9.500 vòng/phút. Tăng tốc từ 0 lên 100 km/h trong vòng 2,8 giây.

Siêu môtô của Suzuki trang bị hệ thống trợ lực côn. Ngoài ra, hệ thống định vị S-DMS với công tắc đặt trên tay lái cho phép người điều khiển lựa chọn ba cấp bậc hoạt động khác nhau của động cơ tùy thuộc vào điều kiện đường sá vận hành. Hayabusa sử dụng bánh trước có kích thước 120/70ZR17, bánh sau 190/50ZR17.

Phiên bản Suzuki Hayabusa do Saigonmoto nhập về Việt Nam phối hai màu đặc trưng của phiên bản 2011. Màu trắng ngọc trai cùng bộ tem viền màu vàng (gold) đẹp mắt.

Suzuki Hayabusa 2011 có giá tham khảo tại nước ngoài ở dưới 13.000USD.

Hayabusa 2011 vẫn giữ nguyên thiết kế truyền thống của Suzuki.

Cụm đèn pha thiết kế dạng khí động học.

Hayabusa sử dụng cặp thắng đĩa trên bánh trước đường kính 310mm.

Bộ gác chân được làm gọn.

Ống xả kích thước lớn được bố trí hai lên phía sau xe.

Đèn xi nhan sau trên Hayabusa.

Động cơ được làm mát bằng két nước được đặt ngay phía trước.

“Trái tim” Hayabusa là khối động cơ 1.340 phân khối có công suất cực đại 197 mã lực.

Cụm tay lái, đồng hồ trên Suzuki Hayabusa.

Nút điều chỉnh chế độ vận hành động cơ đặt trên tay lái.

Gương chiếu hậu kích thước lớn, dễ quan sát phía sau.

Bình xăng Hayabusa có dung tích 21 lít.

Phanh đĩa trên bánh sau đường kính 260mm.

Theo VNE

Toyota: Xe Fortuner V TRD Sportivo – riêng một vị thế. Công ty ô tô Toyota Việt Nam (TMV) chính thức giới thiệu Fortuner V TRD Sportivo 2011 – một phiên bản hoàn toàn mới của dòng sản phẩm Fortuner, nhằm mang đến sự lựa chọn đầy cá tính và phong cách cho người yêu thích dòng xe thể…

Chim Ưng Tái Sinh Và Bài Học Truyền Cảm Hứng Triệu Người: Thay Đổi Hoặc Là Chết / 2023

Chim ưng là loài chim trường thọ nhất trên thế giới. Tuổi thọ của nó có thể lên đến 70 tuổi. Nhưng muốn sống trường thọ như thế, thì đến 40 tuổi, nó phải có một quyết định rất quan trọng nhưng lại vô cùng khó khăn.

Khi chim ưng sống đến 40 tuổi, móng vuốt bắt đầu lão hóa, nó không thể vồ chộp con mồi có hiệu quả nữa. Mỏ nó trở nên vừa dài vừa cong, như sắp chạm vào diều. Đôi cánh nó trở nên nặng nề, vì lông mọc vừa dài lại vừa dày, khiến nó bay rất nhọc sức.

Nó chỉ có 2 lựa chọn: Hoặc là đợi chết, hoặc là trải qua một quá trình biến đổi vô cùng thống khổ, ma luyện kéo dài 150 ngày.

Nó phải nỗ lực bay lên đỉnh núi cao, rồi làm tổ trên vách núi hiểm trở. Nó dừng lại ở đó, không được bay nữa. Và nó phải dùng mỏ để mổ vào đá, cho đến khi cái mỏ hoàn toàn bị rụng rơi.

Sau đó, nó phải tĩnh lặng đợi chờ cái mỏ mới sinh ra, rồi dùng cái mỏ mới sinh ra ấy mà nhổ từng cái móng vuốt. Sau khi móng vuốt mới mọc ra, nó lại phải dùng móng vuốt để nhổ từng sợi lông.

Sau 5 tháng, bộ lông mới đã mọc ra. Chim ưng bắt đầu bay, lại bắt đầu cuộc đời của Thần ưng sống thêm 30 năm nữa.

Giống như chim ưng, chúng ta cũng muốn thoát xác đổi mới

Trong cuộc đời mỗi người, có lúc chúng ta cũng phải đưa ra quyết định khó khăn, bắt đầu một quá trình làm mới chính mình.

Chúng ta phải vứt bỏ hết các thói quen cũ, những ước thúc cũ, để chúng ta có thể lại bắt đầu bay lên trở lại. Chỉ cần chúng ta nguyện vứt bỏ hành trang cũ, nguyện học cái mới, chúng ta mới có cơ hội phát huy tiềm năng của mình, khai sáng ra một tương lai mới mẻ.

Cuộc đời con người như dòng sông cuồn cuộn chảy, như đóa hoa mai ngạo nghễ tuyết sương, khát vọng mùa xuân và ánh nắng, chống chọi gió tuyết và khổ nạn. Trong quá trình vật lộn chống chọi đó, nhiều sinh mệnh đã hiển lộ ra lòng bền bỉ và đức tính cao quý của mình.

Vì đó là tổng hợp phức tạp của sinh mệnh tự nhiên và sinh mệnh xã hội, vừa gắn liền với đất mẹ tự nhiên, được thiên nhiên hậu đãi, lại vừa là sinh mệnh với tâm linh làm chủ thể.

Quá trình vật lộn chống chọi của chúng ta chính là quá trình dần dần thoát xác đổi mới.

Đời người như dòng nước chảy xiết, không gặp đá ngầm, sao có thể bắn tung những bọt sóng diễm lệ như những đóa hoa? Chỉ có trải qua thoát xác biến đổi, mới có thể triển hiện ra bản lai đích thực xuất sắc của mình.

Thoát xác đổi mới chính là quá trình sinh mệnh tiến lên

Tuy nhiên, đa số thời gian chúng ta quen sống theo một kiểu cố định, nhưng cuộc sống lại không cho phép chúng ta như vậy.

Trong những năm tháng cuộc đời đằng đẵng, chúng ta cần thoát xác đổi mới. Thoát xác đổi mới là một cơ chế cải tiến những chỗ khiếm khuyết của bản thân. Sau khi ý thức được sai lầm của mình, chúng ta sẽ lựa chọn né tránh, nghe rồi để đấy, mặc kệ nó, hay là dũng cảm học tập thay đổi chính mình?

Nếu chúng ta không muốn bị rơi rớt bởi sai lầm, khiếm khuyết đó, thế thì hãy thoát xác đổi mới, đem lại cho chúng ta sinh mệnh mới.

Theo Mạng Lệ Chí Nam Phương biên dịch

Đặc Điểm Sinh Học Của Yến Trong Nhà / 2023

Mỏ màu đen có chiều dài trung bình 2 mm, chiều dài cánh 122 mm, lông cánh thứ cấp gồm 7 lông, lông cánh sơ cấp gồm 10 lông. Lông đuôi có chiều dài trung bình 45 mm, lông đuôi thứ cấp gồm 10 lông. Chân có 4 ngón, chiều dài cẳng chân trung bình 10,9 mm, ống chân chiều dài trung bình 21 mm, móng chân chiều dài trung bình 4 mm. Chim yến sử dụng đôi nhân để bám giá thể như: vách đá, bờ tường, giá gỗ. Chúng không đậu trên các cành cây, dây điện… Do vậy, trong quá trình phát triển tiến hóa, chim yến phát triển bộ móng chân để thích nghi với đời sống đeo bám.

Ở Việt Nam, chim yến sinh sống trong nhà phân bố từ Thanh Hóa đến Cà Mau, Phú Quốc – Kiên Giang và phân bố khu vực Tây Nguyên có địa hình cao trên 500 m so với mặt nước biển như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai…Vv..

Trong những năm gần đây quần thể chim yến sinh sống trong nhà ở Việt Nam ngày càng tăng. Đây là ưu thế rất thuận lợi cho nghề nuôi chim yến trong nhà phát triển và mở ra một ngành nghề mới cho người dân.

+ Nhiệt độ không khí nằm trong 27 – 31 0 C;

+ Độ ẩm không khí từ 70 – 85%;

+ Ánh sáng lý tưởng trong nhà yến nhỏ hơn 0,2 lux;

+ Chim yến nhà sống thành quần đàn, không sống riêng lẻ; chim yến làm tổ ở nơi đảm bảo an toàn, che khuất, ít sự đe dọa của thú ăn mồi.

Vùng kiếm ăn của chim yến là những khu vực đồng lúa, đồi núi, rừng cây thấp, nơi đây sản sinh ra nhiều loại côn trùng bay là nguồn thức ăn yêu thích của chim yến. Tùy theo đặc điểm thời tiết từng ngày, từng mùa trong năm, có thể thấy sự xuất hiện của chim yến và thời gian kiếm ăn ở các vùng có những khác nhau nhất định. Vào mùa sinh sản vùng kiếm ăn của chim gần nơi làm tổ, chim bay ra bay vào nơi ở nhiều lần để đưa thức ăn về nuôi chim con.

3. Thời gian kiếm ăn.

Thời gian chim rời tổ đi kiếm ăn tùy thuộc vào mùa, khi mặt trời mọc cũng là lúc chim yến bắt đầu đi kiếm ăn.

+ Thời gian rời tổ: 5h00 – 5h30; mùa đông thì trễ hơn vào lúc 6h00.

+ Thời gian về tổ: 18h00 – 18h30; mùa đông thì sớm hơn vào lúc 17h30.

Đối với chim không nuôi chim con thì chúng rời tổ đi kiếm ăn từ sáng cho đến chiều tối về tổ để nghỉ ngơi. Những cặp đang ấp trứng thì luân phiên nhau về ấp trứng. Những cặp đang nuôi chim con thì số lần chim bố mẹ quay về tổ nhiều hay ít phụ thuộc vào chim con đã lớn hay còn bé (chim lớn đòi hỏi lượng thức ăn trong ngày nhiều hơn).

4. Chu kỳ sinh sản.

Chim yến làm tổ bằng nước bọt của chúng được tiết ra từ hai tuyến nước bọt ở dưới lưỡi hai bên má. Vào thời kỳ sinh sản thì tuyến nước bọt phát triển mạnh, phình to ra ở hai bên má. Khi làm tổ, cơ hàm ép vào tuyến nước bọt làm nước bọt được tiết ra, chúng dùng lưỡi đẩy nước bọt ra khỏi miệng và quẹt qua, quẹt lại lên vách đá, khuôn dầm trần nhà hoặc trên vách tường để định hình dạng tổ. Nước bọt tiếp xúc không khí sẽ khô ngay sau khoảng 2-3 giờ. Dần dần (qua nhiều ngày) một cái lưỡi tổ được hình thành và chim yến đeo lên cái lưỡi tổ này hàng đêm để tiếp tục xây tổ cho đến khi tổ hoàn chỉnh để có thể chứa quả trứng của chúng.

Khi vào mùa làm tổ, mỗi đôi chim yến chọn cho mình một chỗ thích hợp (luôn được cố định trong nhiều năm) và cùng nhau xây dựng tổ. Đối với chim mới trưởng thành, chim đực làm tổ trước và kêu gọi chim mái về làm tổ chung; việc tìm kiếm bạn tình có thể nhanh hay chậm. Đối với những cặp đã trải qua sinh sản rồi thì việc làm tổ là nhiệm vụ của cả hai.

Quan sát qua camera hồng ngoại lắp đặt tại nhà yến thì chim yến nhà làm tổ như sau: Khoảng 18h00 chim yến nhà đi kiếm ăn về, chúng nghỉ ngơi khoảng 30 đến 60 phút rồi bắt đầu làm tổ. Khoảng thời gian các cặp chim yến làm tổ nhiều nhất là vào lúc 20h00 cho đến 3h00 sáng ngày hôm sau. Số lần làm tổ và thời gian làm tổ khác nhau qua từng giai đoạn. Giai đoạn đầu khi hình thành tổ trung bình khoảng 12 lần/ngày, khi sắp tới thời gian đẻ trứng thì cường độ tăng lên, khoảng 15 lần/ngày, thời gian một lần quẹt tổ thấp nhất là 25 giây và cao nhất khoảng 7 phút. Chim làm tổ cho đến khi đẻ trứng thì chúng dừng lại, tuy nhiên thỉnh thoảng chúng vẫn quẹt vào chân tổ để gia cố cho vững chắc. Thời gian trung bình chim yến nhà hoàn thành tổ khoảng 50 ngày. Tổ làm hoàn toàn bằng nước bọt màu trắng hình bán nguyệt, kích thước tổ trung bình để chim đẻ trứng là R = 40 ÷ 50 mm. Qua quan sát cho thấy một số tổ có bán kính tối thiểu R min = 35 mm, chim đã đẻ trứng. Bán kính tổ tối đa R max = 65 mm. Những tổ yến không khai thác, sau khi chim con rời tổ thì chim bố mẹ sẽ sử dụng lại cho lần đẻ sau. Những lần đẻ sau chim chỉ gia cố thêm, nhiều lần gia cố như vậy tổ yến sẽ dày thêm.

Sau khi làm tổ xong chim bắt đầu giao phối. Chim thường giao phối vào lúc đêm. Có hai khoảng thời gian giao phối: từ 21h đến 23h; từ 1h đến 3h sáng. Chim giao phối giống như các loại gia cầm khác. Một ngày giao phối khoảng 3 đến 4 lần. Chim giao phối trước khi đẻ trứng 5 đến 8 ngày. Sau khi đẻ trứng đầu tiên, thỉnh thoảng chim vẫn còn giao phối từ 2 đến 3 lần, nhưng sau khi đẻ trứng thứ 2 thì không giao phối nữa.

Chim yến thường chỉ đẻ 2 quả trứng màu trắng. Vỏ trứng mỏng dễ vỡ, kích thước trung bình 21,26 ÷ 13,84 mm, trọng lượng 2,25g. Chim thường đẻ trứng vào lúc sáng sớm từ 2h đến 6h sáng. Thời gian đẻ giữa trứng 1 và trứng 2 khoảng từ 2 đến 6 ngày. Tỷ lệ đẻ trứng của chim yến trong nhà đạt tỷ lệ khoảng 57%; tỷ lệ nở đạt 73%, tỷ lệ nuôi chim trưởng thành đạt 65%.

Có thể xác định được trong năm có 3 tháng (tháng 11; 12 và tháng 1) chim không đẻ trứng hoặc rất ít đẻ trứng. Các tháng còn lại trong năm là mùa sinh sản của chim yến.

Chim bắt đầu ấp khi đẻ trứng đầu tiên. Cả chim trống và chim mái thay phiên nhau ấp trứng và tiếp tục đẻ thêm trứng thứ 2. Khi ấp thì chỉ một con ấp trứng, con còn lại bay đi kiếm ăn, khi bay về thì ấp thay cho con đang ấp đi kiếm ăn. Khi ấp, chim thường dùng mỏ để đảo trứng. Một ngày chim bay ra khỏi tổ 1 – 2 lần, thường vào lúc 8h00 – 10h00 sáng để trứng tiếp xúc với độ ẩm, do đó khi chim con nở ra không bị dính vỏ. Vào ban đêm thì một con ấp, con còn lại bám trên thành tổ, chúng cũng đổi ca ấp cho nhau, một đêm đổi ca ấp khoảng 4 – 5 lần.

Chim con có thể nở vào bất cứ thời gian nào trong ngày, tùy vào điều kiện ấp của chim bố mẹ. Sau khoảng 22 đến 23 ngày thì trứng đầu tiên nở. Thời gian nở của trứng thứ nhất và trứng thứ 2 cách nhau khoảng 2 đến 3 ngày.

Chim non mới nở chịu ảnh hưởng trực tiếp với môi trường sống bên ngoài. Khi chim con vừa nở ngày đầu tiên thì chim bố mẹ không cho ăn mà nằm ấp để sưởi ấm cho chim con, sau đó đi kiếm mồi về cho chim con ăn. Khi đi kiếm ăn thì cả chim bố và mẹ đều bay đi hết. Thời gian đầu chim con nhỏ hơn 10 ngày tuổi thì sau khi cho chim con ăn chim bố mẹ vẫn ấp để sưởi ấm cho chim con từ 1 đến 2 giờ. Thời gian sau chim bố mẹ về chỉ còn mớm mồi cho con.

Ở tuần đầu tiên số lần chim bố mẹ cho chim con ăn khoảng 3 lần/ngày. Ở tuần thứ 2 số lần chim bố mẹ cho chim con ăn khoảng 4 lần/ngày. Giai đoạn này chim con mọc lông tơ nhưng chưa nhiều. Ở tuần thứ 3 số lần chim bố mẹ cho chim con ăn khoảng 5 lần/ngày. Giai đoạn này chim con mọc lông tơ nhiều hơn và lông đậm hơn. Ở tuần thứ 4 và 5 số lần chim bố mẹ cho chim con ăn khoảng 6 lần/ngày. Giai đoạn này chim con mọc lông đầy đủ ở các bộ phận (đuôi, cánh,…) và đã đu tổ được, tập bay.

+ Số lần chim bố mẹ cho chim con ăn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và tùy từng giai đoạn phát triển của chim con. Chim con càng lớn số lần cho ăn tăng lên.

+ Nghiên cứu qua camera quan sát cho thấy chim mẹ mỗi lần cho ăn thường cho một con ăn, nếu thức ăn kiếm được nhiều thì cho cả hai. Mỗi tổ có hai chim con, trong khi chim mẹ cho chim con ăn giữa chúng có sự cạnh tranh giành mồi mớm từ mẹ. Giữa hai chim con sự phát triển không đồng đều.

Thời gian nuôi chim con từ khi mới nở đến trưởng thành trung bình khoảng 48 ngày. Có một số chim non rời tổ sớm khoảng 40 ngày (thường xảy ra đối với tổ 1 con do chim bố mẹ cung cấp đầy đủ thức ăn nên chim con trưởng thành nhanh hơn so với chim ở tổ 2 con).

Bộ lông vũ của chim có ba tác dụng chính: Thứ nhất là bảo vệ cơ thể chim tránh tác động cơ học bên ngoài; Thứ hai, chúng là bộ phận cách nhiệt và điều nhiệt giúp cho chim chống chịu với sự thay đổi thời tiết môi trường; Và thứ ba (quan trọng nhất) là giúp cho chim bay được. Do luôn bị tác động của môi trường nên lông chim bị hư hỏng, mòn đi theo thời gian. Vì vậy, tác dụng của chúng cũng giảm mạnh. Để luôn giữ được tác dụng của bộ lông, chim cũng có sự thay lông. Thay lông là sự thay thế theo chu kỳ bộ lông cũ bằng bộ lông mới. Chu kỳ thay lông thường xảy ra sau chu kỳ sinh sản. Nếu chim có nhu cầu thay lông thì ngừng chu kỳ sinh sản tiếp theo. Khi thay lông, chim có nhu cầu năng lượng rất cao. Chim tăng cường tỷ lệ trao đổi chất.

Cũng như bất kỳ một loài chim nào, chim yến cũng có ngôn ngữ riêng của mình. Có tiếng chim mẹ, chim con, tiếng gọi bạn tình, tiếng gọi bầy, tiếng đấu tranh… Tần số âm thanh mà chim yến nhà phát ra rơi vào khoảng 1 – 16 kHz, tập trung nhất ở khoảng 2 – 5 kHz, hoàn toàn nằm trong khoảng tai người có thể nghe được.

Chúng ta có thể thu được 12 tiếng kêu khác nhau của chim yến vào các thời điểm khác nhau và phân loại được âm thanh của chim yến nhờ vào việc phân tích âm phổ của âm thanh thu được. Phần dưới sẽ trình bày âm thanh cơ bản thường nghe thấy của chim yến.

Âm thanh chim con đòi thức ăn từ chim mẹ của chim yến nhà

Qua quá trình theo dõi và quan sát chúng ta thấy rằng khi chim bố mẹ đi kiếm ăn về, vừa đặt chân lên tổ thì chim con sẽ phát ra tiếng kêu liên tục, đồng thời há miệng to để chim bố mẹ mớm mồi. Tiếng kêu kết thúc khi chúng đã ăn no. Phổ âm thanh của chim con đòi thức ăn từ chim bố mẹ rất khác biệt với những âm thanh khác.

Phổ âm của chim con đòi thức ăn là một chuỗi kéo dài của nhiều nhịp âm. Mỗi nhịp kéo dài 3 giây. Khoảng cách giữa các nhịp 0,35 giây. Trong mỗi nhịp bao gồm 7 đơn âm có cùng âm sắc. Độ dài của mỗi đơn âm trung bình 0,43 giây. Tần số âm từ 3 ÷ 10 kHz. Mức cường độ âm thanh của các đơn âm cũng khác nhau. Cường độ âm thanh của các đơn âm thứ 2 là 99,8 dB (đêxiben). Biểu đồ cường độ âm có dạng hình thoi nối tiếp nhau.

Những chim con còn nhỏ chỉ phát ra một loại âm thanh duy nhất là âm thanh đòi thức ăn từ chim bố mẹ. Các chim yến con khác nhau nhưng cùng phát ra một phổ âm thanh giống nhau.

Âm thanh gọi bầy đàn của chim yến nhà

Âm thanh gọi nhau đi kiếm ăn vào buổi sáng: Chim yến đi kiếm ăn theo tiếng gọi của bầy đàn. Vì vậy, mỗi sáng sớm khi một số chim rời khỏi tổ, bay lượn xung quanh phòng và đồng thời phát ra tiếng kêu thì tất cả những con chim khác đều rời tổ, bay lượn xung quanh phòng và phát ra những âm thanh ríu rít. Chúng lượn 5 – 10 vòng trong phòng rồi bay ra ngoài qua cửa ra vào. Bên ngoài cửa ra vào chúng tiếp tục bay lượn vòng và phát ra những tiếng kêu khác nhau về âm sắc, tần số. Chúng lượn 10 – 15 vòng thì cùng nhau rời khỏi nhà bay đi kiếm ăn.

Phổ âm thanh thu được lúc 4h40 sáng trong phòng là một chuỗi lặp các nhịp nối với nhau liên tục. Mỗi nhịp bao gồm 6 đơn âm có âm sắc khác nhau. Độ dài của mỗi đơn âm trung bình 0,48 giây. Tần số âm từ 2 ÷ 9 kHz, mức cường độ âm lớn và tương đối đồng đều giữa các đơn âm, cường độ âm thanh lớn nhất tập trung ở đơn âm thứ 6 là 108,6 dB, biểu đồ cường độ âm có hình dạng bầu dục.

Phổ âm thanh thu được lúc 4h50 ngoài cửa ra vào là một chuỗi kéo dài của nhiều nhịp âm, các nhịp nối với nhau liên tục, mỗi nhịp kéo dài 0,91 giây, khoảng cách giữa các nhịp 0,04 giây. Trong mỗi nhịp bao gồm 5 đơn âm có âm sắc khác nhau. Độ dài mỗi đơn âm trung bình 0,36 giây. Tần số âm từ 2 ÷ 8 kHz, mức cường độ âm lớn nhất tập trung ở đơn âm thứ 2 là 108,3 dB, biểu đồ cường độ âm có hình dạng hình tam giác.

Âm thanh gọi nhau vào nhà lúc chiều tối: Chim yến đi kiếm ăn từ sáng sớm và trở về nhà vào lúc 16h30. Chúng chưa bay vội vào nhà mà lượn vòng quanh cửa ra vào để hạ nhiệt và đồng thời phát ra tiếng kêu ầm ĩ, gọi nhau cùng vào tổ của mình. Âm thanh gọi nhau vào nhà lúc chiều tối khi đi kiếm ăn về có phần giống âm thanh gọi nhau đi kiếm ăn vào buổi sáng. Phổ âm thanh thu được lúc 16h50 ngoài cửa ra vào là một chuỗi kéo dài của nhiều nhịp âm. Mỗi nhịp kéo dài 2,15 giây. Khoảng cách giữa các nhịp là 0,13 giây. Trong mỗi nhịp bao gồm 5 đơn âm có âm sắc khác nhau là 0,13 giây. Trong mỗi nhịp bao gồm 5 đơn âm có âm sắc khác nhau. Độ dài của mỗi đơn âm trung bình 0,23 giây. Tần số âm từ 2 ÷ 10 kHz, mức cường độ âm lớn nhất là 110,3 dB tập trung ở đơn âm thứ 5, biểu đồ cường độ âm có dạng hình tam giác.

Từ những phân tích trên, có thể thấy âm thanh gọi nhau vào nhà lúc chiều tối và âm thanh gọi nhau đi kiếm ăn vào buổi sáng của chim yến nhà cùng giống nhau về tần số âm thanh, đều nằm trong khoảng từ 2 ÷ 10 kHz. Âm thanh thường có nhiều nhịp, mỗi nhịp kéo dài trung bình 1,8 giây, mức cường độ âm thanh lớn, âm sắc cũng rất phong phú và đa dạng.

Âm thanh dò đường của chim yến nhà: Nếu thử nghiệm tác dụng âm dội của chim yến nhà bằng cách cho chúng bay trong phòng tối có các vật cản bằng các thanh gỗ nhỏ bắt ngang trong phòng, chim yến nhà sẽ tránh được vật cản đó để tìm đến với tổ của mình bằng cách vừa bay vừa phát ra tiếng kêu dò đường và chúng có thể tránh được các vật cản có đường kính từ 10 mm.

Chim yến trong phòng tối đã định vị bằng tiếng vang để điều hướng thông qua hệ thống phòng tối, nơi chúng sinh sống. Âm thanh này nghe giống như một chuỗi tiếng “cạch, cạch”, phát ra liên tục. Âm thanh này có tần số, biên độ và cao độ khác nhau cho mỗi cá thể chim yến. Vì khi quan sát trong phòng lượn của chim yến, ta thấy rằng có 4 cá thể bay vòng tròn trong phòng, bay chung với nhau, nhưng chỉ có 1 con bay vào phòng thì phát âm thanh này, ngoài ra 3 con bay theo cửa lớn ra vào nhà thì không nhận được âm thanh dội của con vừa phát ra. Do đó, có thể nói âm thanh dội này là đặc trưng riêng của mỗi cá thể chim yến, mà chỉ có chúng mới nhận ra được. Dải phổ âm này đa số là thu được trong phòng chim yến, trong phòng lượn và xung quanh các góc nhà… Khó có thể thu được âm thanh này khi chim yến bay lượn vòng tròn.

Khi chim yến bay trong nhà tối, chúng cần phải định hướng bằng cách hồi âm. Vì vậy, khi bay chim yến thường liên tục phát ra tiếng kêu nghe được, tần số lặp lại của tiếng kêu tăng cao khi chim bay tới gần tổ và thời gian rút ngắn lại. Mỗi tổ có một cấu trúc riêng và sẽ cho ra âm phản hồi đặc trưng cho nó mà chỉ có cá thể làm ra tổ đó mới nhận biết được. Và như thế mỗi cá thể chim yến sẽ dễ dàng nhận ra tổ của mình ở chỗ nào. Một điều lý thú là khi chim đu bám vào vách chúng không phát ra các xung động định hướng cũng như khi bay trong ánh sáng ban ngày.

Âm thanh cảnh báo nguy hiểm của chim yến: Tiến sĩ Robert Magath, thuộc Đại học Quốc gia Australia đã chứng minh được loài chim bồ câu cảnh báo đồng loại khi chúng phát hiện mối nguy hiểm bằng tiếng động mà cánh chim bồ câu tạo ra khi chúng bay trong tình huống không an toàn. Còn đối với chim yến chúng thông báo mối hiểm họa bằng cách phát ra tiếng kêu.

Nếu chúng ta dùng thanh gỗ xua đuổi và bắt chim, lúc này tiếng kêu của chúng rất dữ dội. Nếu lọc tạp âm, rồi tiến hành phát âm thanh thu được cùng với âm thanh dẫn dụ ở khu vực kiếm ăn của chúng để kiểm chứng. Kết quả cho thấy khi phát ra âm thanh la hét thì có 7 chim bay đến lượn quanh khu vực loa phát nhưng giữ khoảng cách rất cao, sau 10 phút chúng tản ra đi hết. Còn lúc phát âm dẫn dụ có đến 12 chim bay đến, chúng lượn quanh với khoảng cách ngắn hơn, có hành động xà xuống vùng phát ra âm thanh và chúng chịu tản đi khi tắt âm thanh. Phổ âm cảnh báo nguy hiểm của chim yến là một chuỗi gồm nhiều đơn âm có cùng âm sắc nối với nhau liên tục. Độ dài của mỗi đơn âm trung bình 0,44 giây, tần số âm từ 3 ÷ 10 kHz; mức cường độ âm thay đổi đột ngột, tập trung lớn nhất ở đơn âm 11 là 113,6 dB, biểu đồ cường độ âm của nhịp có dạng hình bầu dục, lớn nhất ở giữa, giảm dần ở đầu và cuối.

Đối với chim yến âm thanh rất quan trọng, chúng chỉ làm tổ ở những nơi chúng cảm thấy an toàn. Gần như tất cả các tổ đều được xây gần những chiếc loa. Chính vì vậy mà trong nhà yến cần phải hạn chế những yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của chim yến nhằm làm giảm tiếng kêu cảnh báo nguy hiểm để chúng không hoảng sợ, tạo nên môi trường an toàn cho chim yến.

6. Đời sống tự nhiên của chim yến

Loài chim yến sống thành quần đàn, làm tổ từng cặp riêng rẽ, sống ở chỗ gần nước (sông, hồ, biển), kiếm ăn ở các đồng ruộng, rừng cây thấp. Chim yến là loài chim có thể bay lượn cao và bay xa đến 300 km. Bình thường chim kiếm ăn cách nhà khoảng 25 km.

7. Vùng kiếm ăn của chim yến

Vùng kiếm ăn là khu vực thích hợp để chim kiếm mồi, là vùng có đủ thức ăn cho chim yến trong suốt cả năm, vùng chim có thể bắt các loài côn trùng bay suốt từ sáng đến chiều tối. Đặc điểm của một vùng kiếm ăn lý tưởng là có khoảng 50% diện tích cây thấp dưới 1 m như đồng lúa, bụi cây; khoảng 30% diện tích cây cao trên 5 m và khoảng 20% mặt nước thoáng. Buổi sáng, chim rời tổ khoảng 5h, sau đó kiếm ăn trên vùng cây thấp, trên vùng cây cao và vùng có mặt nước. Buổi chiều, vào khoảng 16h00 chim yến thường bay về các khúc sông hoặc đầm phá nước ngọt để tắm và uống nước. Từ 17h00 đến 18h00 chim bắt đầu về tổ và cũng có thể muộn hơn cho đến sau 19h00.

8. Thành phần loài thức ăn của chim yến

Thức ăn của chim yến chủ yếu là các loài côn trùng thuộc bộ Hai cánh (Diptera), thành phần loài khá đa dạng.

Chim yến lựa chọn thức ăn là sâu bọ cánh màng và sâu bọ 2 cánh trước, rồi đến sâu bọ cánh bằng như mối (Isoptera). Riêng ở Khánh Hòa thức ăn của chim yến tổ trắng trưởng thành không biểu hiện một xu hướng nhất định từ tháng này qua tháng khác trong nhiều năm. Từ tháng 6 đến tháng 10, trong suốt mùa mưa, thành phần sâu bọ cánh bằng như mối (Isoptera) và Formicidae gia tăng; trong khi đó thành phần sâu bọ cánh màng và sâu bọ cánh giống (Homptera) lại giảm.

Thành phần thức ăn của chim yến chủ yếu là côn trùng bay, một số loại côn trùng như: rầy nâu, rầy xanh, bọ rầy gây hại cho mùa màng. Dựa trên thành phần thức ăn của chim yến có thể thấy không có sự cạnh tranh thức ăn với các đối tượng nuôi khác và sự phát triển nguồn lợi chim yến phù hợp sẽ góp phần bảo vệ mùa màng, làm cân bằng sinh thái chuỗi thức ăn tự nhiên.

Mọi chi tiết xin liên hệ Tư vấn :

Công ty TNHH Yến Ba Phi(Chuyên: Khảo Sát – Thiết Kế – Thi Công nhà yến)

– Trụ sở chính: 65/7 Thạnh Lộc 22 – P.Thạnh Lộc, Q.12, Tp.HCM.

– Văn phòng đại diện: 177/2/16 Đường Linh Trung, chúng tôi Trung, Q.Thủ Đức, Tp.HCM

– Chi nhánh 1: Km38, QL.26, Xã Eaphê, Krông Păc, ĐăkLăk.

– Chi nhánh 2: 85A/4 Bình Lợi, Thị Trấn Tân Trụ, Huyện Tân Trụ, Long An.

– Chi nhánh 3: TT Sa Rài, H. Tân Hồng, Đồng Tháp

Liên hệ tư vấn và khảo sát nuôi Yến : 0902005034 (Mr.Quang)

– Fanpage Facebook: YẾN SÀO BA PHI

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hayabusa (Chim Ưng) (Sinh Học) / 2023 trên website Lamdeppanasonic.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!