Đề Xuất 1/2023 # Hội Quán Sinh Vật Cảnh Đồng Nai: Mang Thiên Nhiên Vào Lòng Phố Thị # Top 1 Like | Lamdeppanasonic.com

Đề Xuất 1/2023 # Hội Quán Sinh Vật Cảnh Đồng Nai: Mang Thiên Nhiên Vào Lòng Phố Thị # Top 1 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hội Quán Sinh Vật Cảnh Đồng Nai: Mang Thiên Nhiên Vào Lòng Phố Thị mới nhất trên website Lamdeppanasonic.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Dù khá muộn màng so với các tỉnh, thành khác trong cả nước, nhưng sáng 8-10, Hội Sinh vật cảnh (SVC) Đồng Nai cũng chính thức ra đời và tổ chức Đại hội lần thứ 1… Một mái tam quan thuần Việt cổ kính, hai nếp nhà cổ đậm nét đặc trưng Nam bộ, dọc theo lối đi là vô vàn những cây kiểng, bon sai, đá được trưng bày xen kẽ nhau. Điểm xuyết đây đó là những gốc gỗ lũa được chế tác thành hình rồng, xe ngựa thật công phu. Đệm cho khung cảnh nên thơ đó là tiếng hót véo von thánh thót của những chú chích chòe lửa ẩn mình dưới vòm cây râm mát khiến người lạc vào phải ngơ ngẩn không muốn rời xa. Đó là không gian của Hội quán Hội SVC Đồng Nai (tọa lạc bên hông Bảo tàng Đồng Nai trong khuôn viên Trung tâm hội nghị và tổ chức sự kiện tỉnh). Ông Vũ Văn Sang, Giám đốc Công ty TNHH cây xanh Biên Hòa, thành viên của Hội cho biết, chỉ riêng kinh phí tạo dựng các kiến trúc trong hội quán đã lên đến gần 4 tỷ đồng, đều do các hội viên tự nguyện góp tay để hình thành sân chơi cho mình và bè bạn.

Một tác phẩm nghệ thuật chế tác từ gỗ lũa trưng bày trong khuôn viên Hội quán Hội Sinh vật cảnh Đồng Nai

THÚ ĐAM MÊ CỦA NHữNG “NÔNG DÂN CAO CẤP” Theo ông Hà Duy Thiện (chủ nhân Hội quán Cội Nguồn), người tự nhận là nghiệp dư nhưng lại rất say mê SVC, ngành này có 4 bộ môn chính được gọi là tứ kỳ môn, gồm: chim, cá, đá, cây. Mỗi bộ môn lại bao gồm nhiều nhánh khác nhau, như bộ môn cây có bon sai, phong lan, kiểng đại thụ; đá có đá mỹ nghệ, hóa thạch, lũa; trong bộ môn chim, ngoài chim cảnh, chim hót lại có cả gà kiểng, công, trĩ… Tuy nhiên, theo xu hướng chơi SVC chung hiện nay, mỗi bộ môn có thể không còn đứng tách biệt riêng lẻ, mà người chơi thường phối hợp với nhau để tạo thành tiểu cảnh. Một tiểu cảnh có thể nói là một thắng cảnh thiên nhiên thu nhỏ, có đá tạo thành những thế núi đẹp, kỳ vĩ, có cỏ cây tạo thành cảnh vật, có những thác, suối nước và thậm chí có cả những kiến trúc điểm xuyết để khung cảnh thêm hoàn mỹ. Nhưng dù là cây, đá, cá, chim hay “bốn môn phối hợp”, thì người chơi SVC phải đều là những người có máu mê, có tâm huyết, bởi nghề chơi này đòi hỏi phải dụng nhiều công phu, ngoài năng khiếu thẩm mỹ còn phải có tính kiên trì, nhẫn nại. Từ một phôi cây ban đầu, người chơi không chỉ phải biết tạo dáng cho cây thành những thế đẹp, “độc” theo cái gu của riêng mình, mà còn phải chăm chút nâng niu, kiên nhẫn uốn từng ngọn cây, và chuyện mất cả chục năm trời mới tạo được một cây bonsai đẹp là điều bình thường của người trong nghề. Với đá cũng vậy, phải say mê vẻ đẹp của từng đường vân đá, thế đá thì mới có thể trăm phương ngàn cách biến phiến đá vô tri thành tác phẩm nghệ thuật để mọi người có thể cảm nhận được vẻ đẹp. Hay với việc tưởng chừng đơn giản là luyện giọng hót cho chim thì phải “có nghề” mới huấn luyện được một chú chim có giọng hót tuyệt vời mà “không đụng hàng”. “Người có tiền có thể bỏ ra hàng chục triệu, trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng để sở hữu một cây bon sai, phiến đá đẹp, nhưng họ sẽ không thể biết đến niềm đam mê, thú vui khi tạo tác sản phẩm, và càng không ai xem họ là nghệ nhân hay “người trong giới” – ông Sang giải thích.

“THÈM” SÂN CHƠI CHO NGƯỜI TRONG NGHỀ Ông Huỳnh Phước Thành, một nghệ nhân bon sai có tiếng ở Biên Hòa kể, cách đây mấy năm, ông có một cây sam núi rất đẹp. Trong giới bon sai đồn đãi nhau về cây sam núi của ông, thế là có người đến “nghía” và đưa giá 400 triệu đồng. Ông Thành gật đầu, không ngờ cây sam núi vừa đẩy ra khỏi cổng đã được hét giá lên gấp đôi, sau cùng nghe nói đã về tay một đại gia với giá trên một tỷ đồng. “Nếu như mình có Hội, có sự trao đổi thông tin, giao lưu rộng rãi thì đã không bị ép giá tới vậy” – ông Thành tiếc rẻ. Cũng theo ông Thành, ở Đồng Nai hiện có ông Châu Chí Hùng (chủ nhân An Phát quán ở Tân Vạn) là nghệ nhân có tiếng về đá. Nhiều lần dự Hội Hoa xuân ở công viên Tao Đàn (TP. Hồ Chí Minh) và các hội thi trong khu vực, các tiểu cảnh do ông Hùng thiết kế đều đoạt giải cao, nhưng đều lấy danh nghĩa cá nhân chứ không thể tự hào trưng thương hiệu Đồng Nai. Có lần “nóng mặt” với các tỉnh, thành khác quá, anh em bàn nhau treo “lụi” tấm biển Hội SVC Đồng Nai lên tác phẩm được giải của mình mà trong lòng “thèm” có được tổ chức riêng của giới mình, không phải lủi thủi chơi một mình hoặc “chơi ké” với hội của các tỉnh, thành bạn. Ông Vũ Văn Sang cho biết, so với khu vực miền Nam thì Đồng Nai hiện rất mạnh về tiềm năng, nhân lực và thành tích trong ngành SVC. Nói về bon sai, người trong nghề không ai không biết đến các nghệ nhân: Trần Đình Thành (đã từng xuất bản tập sách giới thiệu về bon sai, đoạt giải thưởng Sách đẹp Việt Nam), Huỳnh Phước Thành… Về đá thì phải “ngả nón” trước nghệ nhân Châu Chí Hùng với vô số giải thưởng khu vực và quốc gia. Về chim thì các anh: Tiếng, Quang (Tân Mai), Nghĩa (Long Bình Tân)… lừng danh tại các hội thi chim hót khu vực phía Nam. Hay nhóm các anh: Hải, Phú, Mẫn thì nổi tiếng về gà kiểng, thường được mọi người tham vấn ý kiến qua trang web chúng tôi Còn về cá cảnh, vùng Tân Mai hiện là nguồn cung cấp rất lớn cho TP. Hồ Chí Minh và Đông Nam bộ. Thế nhưng, có một thiệt thòi là các bộ môn này từ trước đến nay hoạt động riêng lẻ, chưa có sự nối kết để tạo thành thương hiệu mạnh. Vì thế, sau nhiều nỗ lực, đến nay Hội SVC Đồng Nai đã được ra đời trong niềm kỳ vọng của người trong giới, với mong mỏi Hội sẽ tập hợp được những tiềm năng riêng lẻ trước đây trở thành sức mạnh chung đưa ngành SVC địa phương vươn lên, khẳng định đẳng cấp của mình trong cả nước.

Đến Quán Cà Phê, Nghe Tiếng Chim Hót Giữa Lòng Thành Phố

Đến công viên Tao Đàn ngay trung tâm thành phố Sài Gòn vào dịp cuối tuần, các bạn sẽ được thưởng thức những ly cà phê đen đặc biệt. Trong tách sóng sánh cà phê đen với lớp bọt mỏng li ti nâu vàng, thơm ngào ngạt, uống muỗng đầu tiên những ai không quen dễ nhăn mặt vì vị đắng đọng lại trong cổ họng, nhưng đến khi hết tách, mùi cà phê thơm lừng còn thoảng qua rất dễ ghiền.

Và uống cà phê đúng kiểu Sài Gòn không phải trong một quán sang trọng mà phải ngồi bệt xuống một trong những ghế đá hay ghế nhựa giữa trời nắng chang chang và nghe tiếng chim hót líu lo ngay trong công viên thành phố và người ta quen gọi quán cà phê tự phát này là cà phê chim Tao Đàn.

Uống cà phê đúng kiểu Sài Gòn không phải trong một quán sang trọng mà phải ngồi bệt xuống một trong những ghế đá hay ghế nhựa giữa trời nắng chang chang Mới sáng tinh mơ của ngày thứ 7, một góc công viên Tao Đàn đã phủ kín lồng chim Chích chòe lửa, loài chim yêu thích của nhiều người chơi chim Phần lớn người yêu và say mê nuôi chim cảnh tìm đến đây để thưởng thức tiếng chim hót lanh lảnh giữa hàng cổ thụ Lê Vân/ Báo Du lịch

Quán cà phê chim Tao Đàn đã có từ lâu và dần dà trở thành một nét văn hoá của người Sài Gòn vào dịp cuối tuần. Mới sáng tinh mơ của ngày thứ 7, một góc công viên Tao Đàn đã phủ kín lồng chim. Chủng loại chim cũng đa dạng, từ loài dân dã đến loài quý hiếm như: chích chòe, sơn ca, chào mào, hoàng yến… Mỗi chú chim đều có vẻ đẹp sặc sỡ và tiếng chim hót đặc trưng.

Những người chơi chim ở đây thường phân loại thành chim hót, chim múa và chim đá. Chim hót như chào mào, vành khuyên, chích chòe lửa… Chim đá như chích chòe than, họa mi… Chim múa như sơn ca, chích chòe… Đáng chú ý là những chú chim vừa biết múa và biết hót luôn được dân chơi chim mong muốn sở hữu. Để có được những chú chim vừa biết múa, vừa biết hót như vậy, người chơi chim đã phải huấn luyện và chăm sóc kỹ theo một quy trình đặc biệt mà không phải ai cũng biết.

Có thể nói những ngày cuối tuần như thế này là dịp để dân chơi chim cảnh trong thành phố mang những lồng chim mình nuôi đến cho chúng đọ giọng hót với chim của người khác. Hàng chục cái lồng với những chú chim say sưa hót trong ánh mắt hài lòng của chủ. Còn phần lớn người yêu và say mê nuôi chim cảnh tìm đến đây để quên đi những giờ học tập và công việc mệt mỏi, những ngày tháng mưu sinh để thưởng thức tiếng chim hót lanh lảnh giữa hàng cổ thụ.

Khó ai từ chối lời mời đi uống cà phê ở quán cà phê đặc biệt này, có hoa tươi mọc ven đường, bên những hàng cây êm đềm với những ngôi nhà sừng sững nghiêng mình đón nắng. Ở đó, thật “đã” khi nhấm nháp tách cà phê nóng thơm và nghe tiếng chim hót véo von trong nắng. Âu cũng là nét đẹp và thú vui đáng trân quý của người dân Sài Thành.

Hình Tượng Thiên Nhiên Trong Âm Nhạc

Âm nhạc vốn là sự hợp nhất giữa thiên nhiên hoà cùng những cảm xúc tinh tế và trí tuệ của con người. Bằng những hình thức thể hiện khác nhau, những ngôn ngữ âm nhạc khác nhau, thiên nhiên đã trở thành nhân tố quan trọng trong những tác phẩm âm nhạc. Có thể nói, từ âm nhạc dân gian đến những tác phẩm âm nhạc kinh điển qua các thời kỳ: Trung cổ (1100 – 1400), Phục hưng (1400 – 1600), Baroque (1600 – 1750), Cổ điển (1750 – 1820), Lãng mạn (1820 – 1910), hay âm nhạc thế kỷ 20 đã có nhiều tác phẩm phác họa hình tượng thiên nhiên và cuộc sống con người. Đó là những tác phẩm có sức sống vượt thời gian, vượt không gian và tồn tại trong đời sống của nhân loại.

Hình tượng thiên nhiên được tái hiện trong các tác phẩm âm nhạc của các nhạc sĩ thường mang tính khái quát. Vì vậy, khi nghe một tác phẩm không ai có thể đưa ra một cách cụ thể là những câu nhạc nào đang diễn tả một hình ảnh thiên nhiên cụ thể mà chỉ có thể bao quát chung toàn tác phẩm để thấy tinh thần của thiên nhiên trong đó. Nhìn chung, chỉ nhạc sĩ sáng tác mới có thể nói chính xác được những hình tượng thiên nhiên trong các tác phẩm của mình. Đôi khi cũng có những tác phẩm của các nhạc sĩ sau này được người khác đặt tên hoặc gắn nó với với một vẻ đẹp nào đó trong thiên nhiên.

Chủ đề “Hình tượng Thiên nhiên trong Âm nhạc” trong bài viết này xin giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu của một số nhạc sĩ nổi tiếng trên thế giới qua các thời kỳ: Âm nhạc tiền cổ điển (Baroque), âm nhạc Cổ điển, âm nhạc Lãng mạn, và âm nhạc thế kỷ 20.

1. Thiên nhiên trong âm nhạc thời kỳ Baroque

Thời kỳ âm nhạc Baroque, hay còn gọi là Tiền cổ điển (1600 – 1750) đã có nhiều nhà soạn nhạc nổi tiếng như: Johann Sebastian Bach của nước Đức (1685 – 1750), George Frideric Handel người Anh gốc Đức (1685 – 1759), Alessandro Scarlatti của nước Ý (1660 – 1725)… nổi bật là nhạc sĩ Аntoniо Vivaldi của nước Ý (1678 – 1741) đã có tác phẩm viết về thiên nhiên.

Trong các tác phẩm viết về thiên nhiên thì Tổ khúc âm nhạc là hình thức biểu hiện tốt nhất. Mỗi chương nhạc trong các tổ khúc đó còn được coi như một tác phẩm độc lập. Có thể kể đến bản Tổ khúc Concerto viết cho bộ dây “The Four Seasons” – Bốn mùa của nhạc sĩ kiêm nghệ sĩ đàn Violon của nước Ý, đó là Antonio Vivaldi (1678 -1741). Tác phẩm đã phác hoạ bức tranh toàn cảnh về các mùa trong một năm. Tác giả đã giới thiệu ý đồ của từng chương nhạc với phần giải thích ngắn. Trong nhiều tài liệu âm nhạc đã viết về chương I với tên gọi Mùa Xuân như sau: “Mùa xuân đến, chim muông vui mừng ca hát chào Xuân. Những con suối reo róc rách. Mây đen kéo đầy trời. Sấm sét cũng báo hiệu mùa xuân về. Và rồi chim non lại ca hát ngọt ngào. Trên bãi cỏ, chú bé chăn dê ngủ ngon dưới gốc sồi xào xạc lá xanh… Những nàng tiên nhảy múa với điệu nhạc đồng quê…”.

2. Thiên nhiên trong âm nhạc Cổ điển

Thời kỳ âm nhạc cổ điển vào khoảng năm 1750 – 1820. Trên thực tế đã có nhiều nhạc sĩ sáng tác những tác phẩm âm nhạc cổ điển trong đó có khắc họa những hình tượng từ thiên nhiên, đặc biệt là các nhạc sĩ thuộc Trường phái Âm nhạc cổ điển Viên.

Một trong những đại diện tiêu biểu của Trường phái Âm nhạc cổ điển Viên phải kể đến nhạc sĩ người Áo, đó là Franz Joseph Haydn (1732 -1809). Ông đã sáng tác nhiều thể loại âm nhạc khác nhau, đặc biệt thành công với những tác phẩm giao hưởng. Với 104 bản giao hưởng, nhạc sĩ Haydn đã chuyển tải vào trong đó những suy nghĩ, khát vọng, tình cảm của nhạc sĩ và tái hiện cả cuộc sống thiên nhiên hay cuộc sống đời thường vào trong những giai điệu âm nhạc.

Đại diện nữa của Trường phái Âm nhạc cổ điển Viên phải kể đến thần đồng âm nhạc nước Áo: Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791). Hình tượng thiên nhiên khi mùa xuân đến đã được nhắc tới ở chương I mang tên “Mùa Xuân” trong tác phẩm “Symphony No.40” (Giao hưởng số 40) của W.A. Mozart mà ông viết xong vào ngày 25/7/ 1788. Tác phẩm trở thành đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông. Có lẽ với tính chất âm nhạc đầy cảm xúc nội tâm của con người trước thiên nhiên tươi đẹp đã khiến người nghe liên tưởng tới những hình ảnh phong phú khác nhau và đặt cho nó một tiêu đề nào đó. Trong cuốn sách “Mozart” của nhà thơ Bằng Việt đã có đoạn mô tả Chương I bản giao hưởng số 40 của Mozart như một cảm xúc về Mùa Xuân: “Âm nhạc mang tính kịch, không chỉ đơn thuần ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên mà nó còn gần với số phận con người trước bao điều bất công, trở lực trong cuộc đời. Giai điệu bi thương hết sức gần gũi với nỗi đau khổ của con người đang cần có sự đồng cảm sâu xa… Đồng thời bản nhạc vẫn có nét chìm trầm tĩnh, tuy dịu dàng nhưng rắn rỏi, không khuất phục, nó là mầm sống bền bỉ, lòng phản kháng dũng cảm còn ẩn náu đến cùng trong mọi nỗi đau và không cho phép con người tuyệt vọng, mà tin tưởng vào Mùa Xuân mới đang đến. Những giai điệu mang nỗi buồn man mác được giải thoát trong ánh nắng ám áp của Mùa Xuân và trong đó có niềm hy vọng, nó trải rộng dần theo những tia nắng dọi loang xuống cánh đồng, như những búp chồi xanh mọc lại trên thân cây trụi. Mùi hương đồng nội chất phác toả đến và xoa dịu đi bao nỗi buồn. Đó là quy luật vĩnh cửu và thiêng liêng của cuộc sống mỗi khi Xuân về!”.

Trường phái Âm nhạc cổ điển Viên còn có nhạc sĩ thiên tài nước Đức: Ludwig van Beethoven (1770 – 1827). Hình tượng con người với thiên nhiên đã được khắc hoạ rõ nét trong bản “Symphony No.6” – Giao hưởng số 6 còn có tên gọi: ” Đồng Quê”. Trong giáo trình “Lịch sử âm nhạc Thế giới” của Nhạc Viện Hà Nội – nay là Học viên Âm nhạc Quốc gia Việt Nam có đoạn viết về tác phẩm này như sau: “Đây là sự truyền đạt những cảm xúc của Bethoven khi ông luôn sống gần gũi với thiên nhiên và cuộc sống thôn dã, điều này đã cho ông cảm xúc để vẽ nên bức tranh phong cảnh bằng âm thanh, với sự kết hợp hài hoà và cân đối của con người với thiên nhiên. Ở đây đã phản ánh rõ nét những tình cảm riêng tư thầm kín, sự thanh thản cao độ của tâm hồn được kết hợp với cuộc sống sôi nổi mãnh liệt. Ngoài tiếng chim hót dịu dàng (chim cu, hoàng anh, hoạ mi) và tiếng suối reo róch rách trong Chương II có tên gọi “Cảnh bên suối”, với những giai điệu gợi lên cảm giác yên tĩnh, nhẹ nhàng trong tiếng lao xao của cây rừng, tiếng suối reo, tiếng chim hót, và những ý thức về sự vĩnh cửu trong vũ trụ. Ta còn nghe thấy Chương III “Cuộc vui tập thể của dân làng” là những nét nhạc mộc mạc của các nhạc cụ dân gian, những điệu múa. Đặc biệt là Chương IV với tên gọi là “Giông tố” là sự khai thác tính năng các nhạc cụ trong Dàn nhạc giao hưởng để tạo nên những âm thanh trong cơn giông tố kéo đến làm tan cuộc vui. Ta có thể ghe thấy tiếng đàn Violon Cell và Contrabasse gầm rú, nhóm Violon miêu tả tiếng mưa rơi tí tách bằng những âm thanh ngắt quãng, tiếng sáo và trống định âm bắt chước ánh chớp và tiếng sấm vang rền – đây thực sự là bức tranh giông tố nổi bật với những nét nhạc thấm đượm tâm trạng hồi hộp của con người trước sức mạnh tự phát hùng vĩ của thiên nhiên… Cơn giông tố mạnh dần, nếu nhắm mắt lại người nghe sẽ thấy cảm giác lạnh run, chơi vơi trong cơn mưa với từng đợt gió mạnh. Sau cơn bão tố, tiếng sáo trong “Bài ca mục đồng” lại vang lên thanh bình…”.

3. Thiên nhiên trong âm nhạc Lãng mạn

Âm nhạc Lãng mạn xuất hiện khoảng năm 1820 đến năm 1910. Thời kỳ này tiếp tục có nhiều nhạc sĩ nổi tiếng với những tác phẩm âm nhạc có tiêu đề rõ rệt, khai thác sâu sắc thế giới nội tâm con người trước cuộc sống và thiên nhiên. Những nhạc sĩ thời kỳ Lãng mạn như: Hector Berlioz, Johannes Brahms, Richard Wagner và Piotr Ilyich Tchaikovsky, Chopin , Wagner, Schubert, Dvorak, Berlioz, Bizet, Grieg, Liszt, Schuman…

Những người yêu âm nhạc chắc còn nhớ tới một tác phẩm viết về mùa Xuân của nhạc sĩ người Đức – Felix Mendelssohn, đó là tác phẩm: “Sping Song – bài ca mùa Xuân” là tiểu phẩm số 6 trong tập “Bài ca không lời” số 5, Op. 62 viết cho piano của Mendelssohn. Bằng những giai điệu âm nhạc dịu dàng, Mendelssohn đã mang đến cho người nghe cảm thấy mùa Xuân đang hiện hữu, trở mình tỉnh giấc như những cành cây non đang đâm chồi, nẩy lộc, đó là lúc thiêng liêng trong giây phút hồi sinh. Tác phẩm đã chứa đựng những lời ca về mùa Xuân, thể hiện tình yêu bao la với thiên nhiên và tình yêu đối với con người còn rộng lớn hơn nữa.

Một tác phẩm nổi tiếng nữa của Mendelssohn, đó là: ” Giấc mộng đêm hè” viết nhạc nền cho vở kịch “A Midsummer Night”s” của William Shakespeare, trong Op. 61 của Mendelssohn được hoàn thành 16 năm sau khi ông viết bản Overture Giấc mộng đêm hè, Op. 21. Trong đó đã khai thác thế giới nội tâm sâu sắc của con người và cảm nhận của con người với cuộc sống thiên nhiên.

Cũng là những bức tranh về thiên nhiên trong các tác phẩm âm nhạc, bên cạnh đó còn nổi bật lên Tổ khúc “The seasons – Bốn mùa” – P.I. Tchaikopski (1840 – 1893). Đây là Tổ khúc viết cho đàn Piano gồm 12 khúc nhạc, mỗi khúc nhạc tượng trưng cho từng tháng trong năm, và được nẩy sinh từ ý thơ của các nhà thơ của Nga như: Puskin, Maicôp, Phiet, Côlxôp…

Trong tài liệu “giảng nhạc” của nhạc sĩ Nguyễn Thị Nhung đã giới thiệu về tác phẩm này: “Bốn mùa, Tchaikopski đã mô tả những cảnh thơ mộng của thiên nhiên nước Nga, và đồng thời diễn tả tâm trạng, tình cảm của ông. Hình ảnh những tháng của mùa Xuân được khắc hoạ rõ nét. Xuân về trên cánh đồng, những bông hoa hé nở trong khúc hát của chim sơn ca, những bông hoa tuyết cuối cùng rơi trên cành. Mặt trời chiếu sáng, thiên nhiên bừng thức dậy. Trên những cành cây xù xì đang chuẩn bị đâm chồi, chờ đợi những khoảng khắc, những giây phút thiêng liêng trong sự hồi sinh. Những tháng của mùa Hạ là những đêm trắng, những nhịp chèo thuyền. Mùa thu với những cơn gió mát và tiếng xe chở lúa chạy suốt đêm của mùa gặt, hay tiếng tù và vang lên khúc nhạc đi săn. Trong những tháng của mùa Đông là bài ca cuối cùng của mùa Thu, rồi đến không khí vui tươi của ngày lễ giáng sinh…”.

Với tôi đặc biệt ấn tượng khi nghe khúc nhạc về tháng 5 có tên gọi “Những đêm trắng” với đoạn thơ trích dẫn của A. Phêt:

“…Ôi đêm trắng! Một màu bạc trắng!Ta cám ơn miền đất yêu thương4. Thiên nhiên trong âm nhạc thế kỷ 20 Từ thế giới giá băng lạnh lẽoĐã bay về tháng Năm tinh sương…”

Trong cuốn “P.I. Trai-Cốp-Xki” do Nhà xuất bản Văn hóa in 1978 đã có đoạn viết như sau: “Đây là sức quyến rũ của những đêm trắng ở Prêtecpua. Đó là những màu bàng bạc của bầu trời, những chuyển động huyền bí trong đêm trắng luôn mang lại cho con người cảm giác man mác buồn, chờ đợi điều gì đó mơ hồ rồi lắng xuống vào những ước vọng trên bầu trời dần sáng của bình minh. Giai điệu âm nhạc mềm mại, đầy tư lự như nghe tiếng gió thổi”.

Những hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp còn được tái hiện trong âm nhạc của nhạc sĩ người Áo: Johannes Brahms (1833 – 1897) với tác phẩm “The Blue Danube”. Khởi đầu của tác phẩm này vốn có lời ca do Josef viết và đặt tên là “On the beautiful blue Danube” nhưng sau khi nó được chuyển soạn cho dàn nhạc trình tấu thì đã được động đảo công chúng yêu mến. Như vậy, với những hình ảnh thơ mộng của một dòng sông trong xanh, quanh co uốn lượn như dải lụa, có ngàn hoa đua nở và tiếng chim hót đã đi vào tâm thức chúng ta một cách tự nhiên mỗi khi giai điệu của tác phẩm vang lên.

Bước sang thế kỷ 20 (1900 – 2000) tiếp tục xuất hiện nhiều nhạc sĩ nổi tiếng trên thế giới. Trong số các nhạc sĩ Nga có tác phẩm viết về mùa Xuân chúng ta còn nhớ tới vở vũ kịch “The Rite of Spring – Mùa Xuân thần thánh” của nhạc sĩ vĩ đại Igor Stravinsky. Đây là bức tranh về nước Nga cổ, với cảnh sống đơn sơ, du mục xưa kia. Trong bài viết “Mùa xuân thần thánh” của tác giả Đỗ Vũ đăng trên trang Web: chúng tôi đã có đoạn viết về tác phẩm này như sau: “Nổi lên trong những tác phẩm của các tác giả phương Tây viết về mùa xuân, người ta thường chú ý đến âm nhạc cho ballet Mùa xuân thần thánh (tên nguyên gốc tiếng Nga là Vesna Svyashchennaya, tiếng Anh dịch là The rite of Spring hoặc The coronation of Spring) của nhạc sĩ Nga nổi tiếng thế kỷ 20 – Igor Stravinsky, một tác phẩm được coi là khám phá lớn của âm nhạc thế kỷ 20. Một tác phẩm nhạc cho ballet thoạt đầu bị công chúng la ó nhưng ngày càng được tôn vinh, thán phục. Dần dần Mùa xuân thần thánh thường xuất hiện trên sân khấu hòa nhạc nhiều hơn trên sàn diễn các nhà hát Opera và ballet của thế giới”. Tác giả của nó, nhạc sĩ Stravinsky đã từng nói “Trong Mùa xuân thần thánh tôi muốn thể hiện sự hồi sinh rạng rỡ của thiên nhiên, được sống lại một cuộc đời mới, một sự hồi sinh trọn vẹn, tự phát, sự thai nghén hồi sinh của muôn loài”.

Trong âm nhạc thế kỷ 20 còn nổi bật với Trường phái Ấn tượng mà đại diện của nó là nhạc sĩ người Pháp Claude Debussy (1862 – 1918) và nhạc sĩ Maurice Ravel (1875 – 1937).

Nhắc đến tên tuổi nhạc sĩ Claude Debussy, công chúng yêu nhạc thường nhớ tới tác phẩm “La Mer – Biển cả”. Debussy gọi “La Mer” là “ba phác họa bằng giao hưởng”. Chương I của tác phẩm với nhan đề “Biển từ lúc rạng đông đến trưa” mô tả màn sương tan dần, biển mênh mông bát ngát. Biển hiền hoà đón tia nắng đầu tiên. Sóng biển long lanh phẳng lặng bắt đầu chuyển động…. Chương II: “Trò chơi của sóng”, Chương III: “Đối thoại giữa gió và biển”. Tác phẩm mang đậm tính chất hội hoạ. Debussy đã ghi lại vẻ đẹp và cuộc sống của biển cả, sự dịu hiền yên tĩnh, sự sôi nổi và mãnh liệt của nó. Biển như một cơ thể sống biết nói, cười, vui buồn và giận dữ, biết đau khổ và đấu tranh…(Trích trong cuốn “Lịch sử âm nhạc thế giới – Nhạc viện hà Nội).

Công chúng yêu nhạc chắc đã từng thưởng thức bản Serenade Rimpianto Op.6 của nhạc sĩ người Ý: E. Toselli (1883 – 1926), do nghệ sĩ André Rieu trình tấu đàn Violon, nghệ sĩ Thieu Heylijes đàn Piano cùng dàn nhạc. Với những giai điệu ngọt ngào, trữ tình do đàn Violon diễn tấu cùng màu sắc phối âm mềm mại và tinh tế của đàn Piano và dàn nhạc. Đặc biệt là tiếng chim hót điểm xuyết trong toàn tác phẩm càng làm tăng thêm tính lãng mạn với những âm thanh mang lại cảm giác như đang chìm đắm trong một khu rừng với cảnh sắc thiên nhiên tuyệt vời…

Hội Sinh Vật Cảnh Bình Định: Tích Cực “Giữ Lửa” Cho Phong Trào

Hội Sinh vật cảnh Bình Định: Tích cực “giữ lửa” cho phong trào

Những năm qua, việc kinh doanh sinh vật cảnh (SVC) gặp nhiều khó khăn. Ðể nuôi dưỡng niềm đam mê, đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn hoa kiểng, non bộ, chim cảnh, cá cảnh, đá cảnh, vườn cảnh… của người dân, Hội SVC tỉnh (khóa III, 2010-2015) đã tích cực động viên hội viên, “giữ lửa” cho phong trào.

Hơn 15 năm qua, phong trào SVC Bình Định đã phát triển sâu rộng cả về số lượng và chất lượng, đạt nhiều thành tựu về nghệ thuật lẫn mục đích kinh tế. Tác phẩm SVC Bình Định đã tự tin có mặt tại các lễ hội SVC tầm cỡ quốc gia và hiện là một thương hiệu mạnh mà giới kinh doanh SVC cả nước biết đến.

Liên hoan, hội thi trưng bày triển lãm SVC lần thứ VI (2015).

Khúc thăng trầm

Thời kỳ đỉnh cao của phong trào SVC và kinh tế SVC ở Bình Định (2004 – 2010), sản xuất, kinh doanh SVC là ngành kinh tế có giá trị cao, mỗi năm doanh thu từ sản phẩm SVC trong toàn tỉnh lúc bấy giờ ước tính không dưới 70 tỉ đồng. Những sản phẩm SVC gắn liền với những tên tuổi, nhiều cây kiểng bạc trăm của các nghệ nhân Nghĩa Đàn, Văn Hùng, Tý Đô Thành, Rô Bi, Tuấn Nhí, Ngọc Sơn, Bá Dũng, Mai Ca, Trần Quang Thiện, Phước Lộc… đã làm cho hoạt động hàng hóa SVC Bình Định thêm nhộn nhịp.

Các “đại gia” cây cảnh trong cả nước, nhất là ở phía Bắc, như: Cường (thóc) ở Hải Dương, Cường (đô-la) ở Hà Nội, Cường (họa sĩ), Thành (vàng), Toàn (đô-la) ở Việt Trì, Phú Thọ… gây “sốc” khi tuyên bố sở hữu những tác phẩm tiền tỉ… là những “đại khách” hay lui tới làng cây kiểng Bình Định. Lúc bấy giờ Hội SVC Bình Định cũng thường xuyên đón tiếp các cấp Hội trong cả nước đến tham quan, học tập về các hoạt động Hội và nghệ thuật chơi cây cảnh.

Thế nhưng, khoảng cuối năm 2010, thời điểm Hội SVC Bình Định (khóa III) vừa Đại hội xong, cũng là lúc người “săn” kiểng thưa dần rồi vắng hẳn, không chỉ ở Bình Định mà là tình hình chung của cả nước. Những tác phẩm cỡ đại, cây cổ thụ, cây có giá trị cao vắng hẳn người mua. Những khách hàng lớn gần như cắt hẳn khoản chi cho SVC. Hội SVC Bình Định nỗ lực duy trì phong trào, định hướng cho hội viên phát triển phong trào và kinh tế SVC theo hướng bền vững.

Các loại kiểng nghệ thuật cỡ trung và bon sai là sản phẩm chủ lực của thị trường hoa kiểng giai đoạn hiện nay.

“Giữ lửa” và hướng đến tầm cao

“Thị trường hoa kiểng sinh động sẽ kéo theo phong trào SVC mạnh mẽ hơn; đồng thời, có phong trào tốt sẽ tập hợp được các nghệ nhân tham gia, có cơ hội học tập, giao lưu và nâng cao tay nghề, tạo ra những sản phẩm tốt. Chính vì nhận thức được điều này, Hội SVC Bình Định đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động; cổ vũ và gợi mở cho hội viên đầu tư đúng hướng, phát huy thế mạnh của cây kiểng cỡ trung, tiểu, bon sai và các loại hoa, cây trang trí, đá cảnh, chim cảnh; đặc biệt là xây dựng thành công thương hiệu “Mai vàng An Nhơn”, tạo nên những vùng chuyên canh cây mai xuân, cúc, hồng, huệ, vạn thọ… cũng như hàng chục làng nghề hoa cảnh trong tỉnh” – ông Nguyễn Duy Quý, Phó Chủ tịch Hội SVC Việt Nam, Chủ tịch Hội SVC Bình Định, cho biết.

Nhờ phối hợp tốt giữa phong trào và kinh tế SVC, 5 năm qua các nghệ nhân và người sản xuất, kinh doanh SVC ở Bình Định hoạt động có hiệu quả. Số lượng hội viên từ năm 2009 là 9.500 người, nay đã trên 12.100 người, sinh hoạt tại 233 chi hội; trong đó có 428 nghệ nhân cấp tỉnh, 28 nghệ nhân SVC Việt Nam. Ở TP Quy Nhơn có Chi hội SVC Xuân Lý doanh thu trong năm qua hơn 1 tỉ đồng; các doanh nghiệp khác như Mai Ca, Rô Bi-Tuấn, Bá Dũng, Văn Trung… có doanh thu khá từ mai xuân, bon sai, tiểu cảnh.

Hội chợ triển lãm Sinh vật cảnh tại Bình Định – 2015 thu hút đông đảo công chúng đến tham quan. Ảnh: Hoàng Sa

Các nghệ nhân, các doanh nghiệp SVC của Bình Định cũng đã có những bước đột phá trong khâu tìm kiếm, mở rộng thị trường; tạo mặt hàng chuyên biệt. Tại Phù Mỹ, anh Trương Văn Minh (xã Mỹ Hiệp) thường xuất kiểng bon sai sang Trung Quốc và nhập về các loại chậu kiểng cao cấp, hàng năm doanh thu hơn 1 tỉ đồng. Doanh nghiệp SVC Phát Đạt (Tuy Phước) mở rộng khai thác thị trường TP Cần Thơ và miền Tây Nam bộ. Chi hội SVC Thủy Tài chuyên cung ứng cây tùng lên thị trường Gia Lai và Tây Nguyên. Doanh nghiệp TMDV SVC Đức Thu Thủy (TX An Nhơn) kinh doanh cây cảnh trang trí công sở, công viên, xuất khẩu sang Đài Loan, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Hồng Kông… với doanh số hàng năm khoảng 100 tỉ đồng.

Ngoài ra, Hội SVC Bình Định vẫn luôn giữ lửa cho phong trào SVC ở các cấp hội cơ sở, quan tâm phát triển tổ chức hội và hội viên. Tổ chức, tham gia nhiều triển lãm, hội thi, hội chợ SVC, như: Trưng bày SVC tại Hội chợ Lâm sản Việt Nam lần thứ I và thứ II (năm 2011 và 2013, tại TP Quy Nhơn); tham gia đều đặn các Festival SVC TP Hồ Chí Minh, Festival Hoa Đà Lạt lần thứ IV, thứ V; tổ chức liên hoan, hội thi trưng bày triển lãm SVC lần thứ VI (2015) tại Quảng trường trung tâm tỉnh, có gần 3.000 tác phẩm nghệ thuật của hơn 200 nghệ nhân trong và ngoài tỉnh tham gia; tổ chức 3 lần hội thi chim chào mào hót toàn tỉnh mở rộng và tại Chi hội Chim cảnh Thu Sa… thu hút hàng ngàn người mến mộ. Đặc biệt, tại Lễ hội Bon sai châu Á Thái Bình Dương năm 2015, diễn ra từ ngày 5-8.6 vừa qua, SVC Bình Định đã đạt 2 huy chương bạc về cá nhân và tập thể.

“Nhờ những hoạt động đầy nhiệt tình, sáng tạo của Hội; sự đam mê, dấn thân của các nghệ nhân và sự vượt khó, đột phá, mạnh dạn đầu tư của các nhà kinh doanh đã làm cho đời sống SVC của Bình Định luôn sôi động và xứng đáng là địa phương dẫn đầu phong trào SVC trong cả nước”, ông Đỗ Phượng – Chủ tịch Hội SVC Việt Nam, nhận xét.

Bài, ảnh: NGỌC DIÊN

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hội Quán Sinh Vật Cảnh Đồng Nai: Mang Thiên Nhiên Vào Lòng Phố Thị trên website Lamdeppanasonic.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!