Đề Xuất 1/2023 # Tìm Hiểu Loài Chim Biểu Tượng Của Nước Mỹ # Top 6 Like | Lamdeppanasonic.com

Đề Xuất 1/2023 # Tìm Hiểu Loài Chim Biểu Tượng Của Nước Mỹ # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tìm Hiểu Loài Chim Biểu Tượng Của Nước Mỹ mới nhất trên website Lamdeppanasonic.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tìm hiểu loài chim biểu tượng của nước Mỹ

Có một loài động vật hiện thân cho sức mạnh, quyền lực của nước Mỹ. Nó xuất hiện trên: đồng tiền của nước Mỹ, quốc huy của nước Mỹ, trên huy hiệu tổng thống của nước Mỹ… đó chính là loài đại bàng đầu trắng.

Đại bàng đầu trắng là một loài chim săn mồi hàng đầu tại Bắc Mỹ. Đây là loài chim biểu tượng của đất nước Hoa Kỳ. Nó được tìm thấy ở những trung tâm có một nguồn thức ăn dồi dào và những khu rừng rậm tại Alaxka, vùng Mexico, khu vực tiếp giáp Canada.

Đại bàng đầu trắng vinh dự được đại diện cho “sức mạnh Mỹ”

“Đại bàng hói” tên xuất phát từ ý nghĩa cổ hơn và giá trị lớn hơn của từ “đầu trắng”: đó chính là sự khôn ngoan, có tầm vóc và sức mạnh hơn.

Khi trưởng thành đại bàng đầu trắng là một con chim lớn, với chiều dài cơ thể 70 đến 102cm, có sải cánh 1,68m, trọng lượng khoảng 2,5 đến 7kg. Trong tự nhiên đại bàng đầu trắng có thể sống đến ba mươi năm, và thường sống lâu hơn trong điều kiện nuôi nhốt.

Thức ăn chủ yếu của đại bàng đầu trắng là cá, đặc biệt là cá hồi. Nó săn cá bằng cách sà xuống và chộp lấy con cá ra khỏi nước với móng vuốt của nó.

Đại bàng đầu hói là chim săn mồi số 1 ở Bắc Mỹ và là một phần tín ngưỡng của người dân nơi đây.

Đại bàng đầu trắng là một loài chim săn mồi cực kỳ mạnh mẽ. Nó có thể đạt tốc độ từ 56 đến 70km/giờ khi bắt đầu bay và vỗ, và khoảng 48 km/giờ trong khi mang theo cá, tốc độ bổ nhào của nó là từ 120 đến 160 km/giờ.

Đại bàng đầu trắng là một loài chim thiêng liêng trong tín ngưỡng của các nền văn hóa Bắc Mỹ, là trung tâm của nhiều phong tục tôn giáo và tâm linh giữa các thổ dân châu Mỹ. Không chỉ thế, nó còn được coi là sứ giả liên kết giữa các vị thần và con người của một số nền văn hóa cổ.

Quốc huy Hoa Kỳ và sự hiện diện trang trọng, thiêng liêng của “Đại bàng đầu hói”

Các thổ dân xưa của châu Mỹ đã quan niệm móng vuốt đại bàng như là một phần thần khí của họ. Lông chim thì thường được sử dụng trong các nghi lễ truyền thống. Họ tin rằng đại bàng là loài chim đã tiếp xúc trực tiếp với thế giới của thượng đế, là một biểu tượng của hòa bình.

Đại bàng đầu trắng (Đại bàng đầu hói) với sức mạnh và giá trị tinh thần to lớn đã trở thành con vật đại diện, là biểu tượng cho sự hùng cường của nước Mỹ từ xưa đến nay.

Huy hiệu tổng thống Hoa kỳ

Huy hiệu Tối cao pháp viện Hoa Kỳ

Biểu Tượng Nước Mỹ Và Những Ý Nghĩa Không Phải Ai Cũng Biết

Mỗi một quốc gia đều có một nền văn hóa đặc trưng. Đi theo đó là những biểu tượng mang theo ý nghĩa tinh thần đại diện cho cả quốc gia, cả dân tộc. Vì lẽ đó, không riêng gì bất cứ quốc gia nào. Dù là đất nước lớn hay nhỏ. Thì việc có cho riêng mình những biểu tượng là điều dễ hiểu. Tất nhiên, với một quốc gia đa dạng màu sắc văn hóa và chủng tộc như Mỹ cũng không ngoại lệ. Trong thực tế, có không ít hình ảnh được xem là biểu tượng nước Mỹ. Và đằng sau mỗi biểu tượng đều có những ý nghĩa hàm xúc riêng.

Biểu tượng của Hoa Kỳ là gì?

Nước Mỹ hay hợp chủng quốc Hoa Kỳ là một quốc gia đa dạng về văn hóa và sắc tộc. Có lẽ chăng bởi vậy nên biểu tượng nước Mỹ cũng khá phong phú. Trong đó, có một số đã được công nhận rộng rãi và được xem như hình ảnh đại diện cho nước Mỹ. Bạn có biết đó là gì?

Quốc huy nước Mỹ là hình ảnh đại diện đặc trưng cho đất nước này. Hình ảnh quốc huy được thiết kế vô cùng tinh xảo trên từng chi tiết dù nhỏ nhất. Trong mỗi chi tiết lại chứa đựng một tầng ý nghĩa nhất định có sự gắn kết mật thiết với Mỹ từ lịch sử tới hiện tại.

Quốc huy được chính thức phê duyệt vào năm 1972 với các ý nghĩa bao gồm: + Hình ảnh đại bàng đầu trắng đại diện cho hình ảnh dang rộng cánh bay lên bầu trời, chiếm lấy sự tự do và độc lập cho Hoa Kỳ + 13 dải sọc đỏ trắng xen kẽ trước ngực chim ưng đại diện cho 13 bang đầu tiên của Mỹ + Cành nguyệt quế ở phía chân trái chim ưng đại diện cho chiến thắng vẻ vang trong quá khứ cũng như hòa bình thực tại mà Hoa Kỳ giành được + 13 mũi tên ở chân phải tượng trưng cho tinh thần ngoan cường, anh dũng quyết chiến quyết thắng trước mọi thế lực chống phá, xâm chiếm + Hình ảnh vòng trang sức trên đầu đại bàng tượng trưng cho một nước Mỹ phồn vinh, hưng thịnh.

Mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ đều có cho riêng mình lá cờ đặc trưng. Nếu Việt Nam gắn liền với hình ảnh cờ đỏ sao vàng. Thì Mỹ lại được biết đến với hình ảnh lá quốc kỳ nhiều màu sắc, họa tiết được thiết kế đan xen.

Hinh ảnh 50 ngôi sao trắng trên nền xanh góc trái tượng trưng cho 50 bang của Hoa Kỳ. Phần còn lại là hình ảnh các sọc ngang màu đỏ trắng xen kẽ biểu trưng cho 13 bang đầu tiên khi nước Mỹ thành lập. Bên cạnh đó, dải sọc màu đỏ còn tượng trưng cho sự hưng thịnh, hùng dũng của Hoa Kỳ. Các sọc trắng thể hiện tinh thần tự do, hòa bình cho nước Mỹ. Màu xanh làm nền cho 50 ngôi sao thể hiện sự chính nghĩa của dân tộc và con người Mỹ. Có thể nói, mỗi một biểu tượng nước Mỹ dù lớn hay nhỏ, nó đều mang theo nhiều tầng ý nghĩa vô cùng sâu sắc.

6 . Quốc ca nước Mỹ – Star – Spangled Banner

Đi cùng quốc kỳ thì quốc ca cũng là một trong những biểu tượng quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Bài hát được lựa chọn thường thể hiện tinh thần của cả dân tộc. Với Hoa Kỳ, Star – Spangled Banner đã vinh dự được lựa chọn làm quốc ca với ý nghĩa biểu trưng cho những lá cờ lấp lánh ánh sao của quốc gia này. Bài hát bắt nguồn từ một luật sư, thi sĩ có tên là Francis Scott Key viết vào năm 1814. Và đến năm 1931, Star – Spangled Banner đã chính thức trở thành quốc ca Mỹ. Nội dung bài hát kể về sự tấn công của Hoàng gia Anh vào pháo đài McHenry năm 1912. Từ đó nêu bật tinh thần quật cường, ý chí chiến đấu kiên định, mạnh mẽ của người Mỹ trước mọi thế lực.

Biểu tượng nước Mỹ – Tượng nữ thần tự do

Tượng đài Washington, Washington D.C

Núi Rushmore, Nam Dakota

Tượng Cổng Mây – Cloud Gate là khối điêu khắc hình trứng khổng lồ với trọng lượng lên đến 110 tấn. Đây là kiến trúc được gò tạo từ 1 loạt những tấm thép đồng nhất không có độ bóng cao. Quan sát bên ngoài, tác phẩm này như 1 tấm gương phản chiếu bầu trời. Còn ở bên dưới là một vòm cầu cao 3.7m.

Tượng Cổng Mây từ lâu đã được xem như một niềm tự hào không của chỉ riêng thành phố Chicago. Mà là của cả nước Mỹ. Đây cũng là một điểm đến đặc biệt yêu thích của du khách trong và ngoài nước.

Cầu Cổng Vàng, San Francisco

Cầu Cổng Vàng là một trong những kiến trúc nổi tiếng trên toàn thế giới của nước Mỹ. Nơi đây được xem như biểu tượng của lòng đam mê và sự huy hoàng của nước Mỹ.

Cầu được đặt từ thành phố San Francisco, nối qua eo biển Golden Gate đã hiện thực hóa giấc mơ được người Mỹ ấp ủ từ lâu. Cầu được xây dựng vào năm 1933. Và mất đến 4 năm để có thể bắt đầu lưu thông. Hiện tại, cầu cổng vàng không chỉ là một công trình kiến trúc kỳ vĩ nổi tiếng. Mà hơn thế nó còn là biểu tượng nước Mỹ với ý nghĩa thể hiện lòng đam mê, sự dũng cảm và kỹ thuật hiện đại kỳ diệu nhất.

Chuông Tự do, Philadelphia

Chuông tự do – Liberty Bell là một trong những biểu tượng về nền độc lập của Hoa Kỳ.

Quả chuông này được mua từ công ty Lester và Park tại London, Anh năm 1752. Tuy nhiên, chuông bị nứt khi lần đầu tiên đặt ở Philadelphia. Sau đó, đã được đúc lại 2 lần bởi thợ địa phương. Tiếng chuông được rung lên vào năm 1776 như lời đại diện cho Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ. Trong những năm 1830, chuông được chọn làm biểu tượng của các hội theo chủ trương xóa bỏ chế độ nô lệ. Và đến ngày nay, sự gắn bó với thăng trầm lịch sử đã biến hình ảnh này trở thành 1 biểu tượng của nước Mỹ đầy ý nghĩa.

Với sự đa dạng về văn hóa và sắc tộc, không khó hiểu khi nước Mỹ có rất nhiều hình ảnh được xem là biểu tượng. Song dù đại diện ở hình thái nào thì ý nghĩa mà chúng mang lại đều thể hiện cho tinh thần và tham vọng của nước Mỹ. Hẳn là vô cùng xứng tầm với vị thế của một cường quốc hàng đầu đúng không?Còn với bạn, bạn nghĩ gì về ý nghĩa của những biểu tượng nước Mỹ này?

Tìm Hiểu Về Loài Chim Yến

Nằm trong quần thể hệ sinh vật đa dạng, phong phú ở vùng biển nước ta phải kể đến các loài chim biển, với hơn 200 loài, trong đó có cả các loài chim trú đông. Chúng được phân bổ khắp mọi địa hình, không gian như: đảo, bán đảo, bãi triều, bãi bồi, ghềnh đá, rừng ngập mặn; cửa sông, bãi cát, các khu dân cư ven biển, với nguồn thức ăn cũng rất hỗn hợp được khai thác từ chính nguồn lợi biển như các hệ sinh vật bao gồm: cá giáp xác, thân mềm, nhuyễn thể, hoa quả, lá, vỏ của một số ây trong hệ sinh thái rừng ngập mặn. Mỗi loài có những đặc tính sinh học khác nhau từ cách tìm kiếm ăn, làm tổ, đẻ trứng, chăm con, tự vệ và đặc biệt hơn cả là hình dạng, màu sắc, tiếng động. Trong những khu rừng ngập mặn, hay những dải rừng dương, thông, dừa ven biển cùng với những âm thanh được vang lên từ lòng đất, mặt đất. Tiếng hót của các loài chim biển như tăng thêm sự hấp dẫn cả “dàn đồng ca”, đa dạng của nhiều “loại nhạc cụ” mà bất cứ ai cũng dễ dàng cảm nhận được khi tới thăm và tìm hiểu những nơi ấy. Những đàn cò trắng đứng trên nóc những tán cây xanh trong khu rừng ngập mặn khi buổi hoàng hôn cuối ngày, những con bói cá, bồ nông, cuốc, diếc, cứ “hì hục” tìm bắt cá trong những vùng nước dưới tán cây, rồi tiếng chim gọi bạn.

Trong bài viết này tác giả xin giới thiệu tới loài chin yến, một loài chim quý đã và đang được cộng đồng dân cư ven biển bảo vệ giữ gìn và khai thác chúng rất có hiệu quả.

Chim yến có tên khoa học là (Collocalia fucipha ga ger-maini oustalet 1871) quen gọi là “Hải yến”, nhìn bề ngoài trông giống chim én nhưng lông không đẹp, hót không hay, mình nhỏ, cánh dài và nhọn, đuôi ngắn, mỏ hơi cong, lông ở lưng và bụng màu xám, lông và đuôi và ánh đen tuyền, do vậy nên yến còn được gọi là “huyền điểu”. Phân bố tập trung ở các vùng như vịnh Hạ Long, Đồng Hới (Vĩnh Sơn, Hòn La), Quy Nhơn, Cù lao Chàm, Nha Trang, Phú Quốc, Côn Đảo, Nam Du, Thổ Chu. Trong đó ở Khánh Hòa chiếm phần lớn số lượng khoảng 60%. Thức ăn của yến là các loài côn trùng nhỏ bay trong không khí, chúng là loài có tốc độ bay tương đối nhanh khi bay có nhiều hoạt động đồng hành diễn ra như: bắt mồi, tỉa lông, thậm chí còn vừa bay vừa ngủ. Chim yến sống thành từng đôi và tập trung thành các đàn có số lượng lớn phù hợp với kích thước tại các hang đá, những nơi ấy phải đủ mát thoáng khí, có độ ẩm vừa phải. Chúng chọn các vách núi đá cao lởm chởm để làm tổ. Yến được 1 tuổi (12 tháng) là bắt đầu sinh sản, vào tháng 12 dương lịch hàng năm chim yến bắt đầu xây tổ. Yến làm tổ bằng nước dãi (nước bọt), nước do cặp tuyến dưới lưỡi tiết ra (khác với các loài chim khác làm tổ bằng cỏ, rác, cành cây). Chúng xây tổ từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 hoặc tháng 5 sang năm mới xong, cũng có trường hợp chỉ xây một tháng là xong. Quá trình làm tổ diễn ra vào thời gian ban đêm. Chim yến có nửa chiếc vỏ quả trứng hay hình cái chén (mà người ta quen gọi là chén hạt mít), những lần làm sau tổ càng nhỏ đi, lúc đầu tổ có khối lượng từ 18 đến 20g, về sau chỉ nặng 5 đến 10g.

Sợi yến từ lúc mới có màu trắng, phơn phớt hồng, sợi ra đời từ các động tác yến dùng mỏ quẹt đi quẹt lại nhiều lần trên vách đá theo tư thế vành tròn xoáy ốc, thành tổ, sau một thời gian các sợi đó biến thành màu trắng đục do tác dụng của không khí. Mỗi sợi dài 35 đến 45cm, có độ dày 2,5mm.

Khoảng tháng 4 khi yến làm xong tổ, người ta bắt đầu khai thác yến sào đợt đầu tiên trong năm. Người ta làm các thang tre, có độ dẻo dài nối vào nhau rồi đeo dây bảo hiểm leo lên chỗ có tổ yến dùng kéo cắt nhưng thường để lại cho yến làm lại cái tổ sau trên nền tổ đó. Ngư dân khai thác ở lần yến xây dựng tổ lần thứ nhất, lần thứ hai, còn lần thứ ba tổ được để lại.

Yến mất tổ sẽ làm tổ mới, vào tháng 7 hoặc tháng 8 sau khi chim đẻ và ấp trứng xong. Mỗi con chỉ đẻ 2 trứng và ấp tròn 2 tháng chim non mới ra đời. Khi những con này cứng cáp, rời tổ, người ta mới bắt đầu khai thác yến sào, phải khai thác đúng thời điểm tránh những trường hợp như tổ đang có. Mặc dù ở thành bầy đàn rất đông nhưng hàng ngàn đôi yến không bao giờ bị nhầm tổ.

Yến sào đã đi vào văn hóa ẩm thực từ vài thế kỷ trước. Thời phong kiến đó là món chỉ được dành cho vua chúa. Khi triều đình mở tiệc to thiết đãi khách quý mới có món yến, vì vậy chữ “yến” thường đi kèm chữ “tiệc” chỉ bữa ăn linh đình thịnh soạn nhiều món và tốn kém. Có nhiều chất dinh dưỡng quý hàm chứa trong yến sào như protein chiếm khoảng 405, acidamin, đường, các loại vitamin và nguyên tố đa lượng, vi lượng có hoạt tính sinh học cao, acidsialic đó là acid có trong nước bọt, có tác dụng kích thích hoạt động thần kinh và xúc tiến quá trình sinh trưởng của tế bào. Yến sào còn được sử dụng thường xuyên xem như một vị thuốc quý mà ngành đông y luôn vận dụng có hiệu quả và cả trong dân gian đời sống thường nhật của người dân ven biển, được sử dụng với tên rất khác nhau như “Quan yến”, “Yến thái”, “Yến oa”, Yến oa thái… Đông y coi yến sào có vị ngọt tính bình, không độc, vào 3 kinh: phế, vị, thận. Có tác dụng: tư âm, nhuận phế, bổ tỳ ích khí, điều trị các chứng hư tổn của cơ thể, ho ra máu, hen suyễn, lỵ lâu ngày… Những đối tượng được áp dụng các loại thuốc quý này là: đàn bà sau khi đẻ hay bị băng huyết, trẻ em mắc bệnh suy dinh dưỡng, bụng ỏng, mắt to, lờ đờ, mệt mỏi, tác phong chậm chạm, người cao tuổi. Các thầy thuốc đông y thường hướng dẫn bệnh nhân sử dụng theo đơn rõ ràng như: dùng với liều lượng nhỏ (5 – 10g) trong thời gian dài mà trong thuật ngữ đông y gọi là “hoàn bổ” (bổ dần dần). Nhưng cũng cấm kỵ sử dụng trong các trường hợp như: những người mắc chứng bệnh “phế vị hư hàn” (phế, suy nhược thể hư han). “Đàm thấp đình trệ” và đang có biểu hiện mắc ngoại cảm.

Một số phương pháp mà những người thông thường có thể áp dụng yến sào để phục vụ mục đích chữa bệnh như:

– Nhân sâm yến thang: mộc nhĩ trắng, yến sào, đường phèn. Mộc nhĩ và yến ngâm nước cho nở ra sau cho vào nồi thêm nước nấu chín nhừ và cho đường phèn vào hòa tan đun sôi là dùng được.

– Canh nhân sâm yến sào: gồm yến nhân sâm, cho tất cả vào bát sứ (gốm) thêm chút nước tinh khiết hấp cách thủy cho chín.

– Thu lê yến oa: gồm quả lê, yến, đường phèn khoét bỏ lõi quả rồi cho yến đường phèn vào dùng tăm tre ken kín lại cho nước vào nấu chín.

– Canh sữa bò yến sào: yến sào hấp cách thủy cho chín sau thêm ít sữa bò nguyên chất đun cho sôi rồi sử dụng.

Tùy theo chất lượng yến sào được chia thành nhiều loại khác nhau như “Bạch yến” (quan yến), “Mao yến”, “Hồng yến” (yến bã trầu), “Huyết yến”, “Thêm yến”, “Địa yến”.

Hiện nay ở tỉnh Khánh Hòa có công ty chuyên khai thác yến sào, sản phẩm ấy được tiêu thụ ra thị trường trong và ngoài nước rất nhanh và nguồn cung cấp không đáp ứng đủ nhu cầu, doanh thu của Công ty này cũng rất cao. Tuy vậy, mục đích quan trọng hơn cả là phải biết bảo tồn duy trì tạo điều kiện môi trường tốt cho loài chim quý này phát triển rồi mới tính đến các biện pháp khai thác, những nguồn lợi quý giá của chúng. Mỗi du khách khi đến thăm miền Trung, ngoài những di sản quý báu như động Phong Nha – Kẻ Bàng, cố đô Huế, đô thị cổ Hội An, Khu di tích Mỹ Sơn, còn đến thăm và đắm mình trong những bãi biển đẹp của miền Trung được thưởng thức nhiều món ăn hải sản quý như ở Lăng Cô (Huế), Quy Nhơn, Phú Yên và Đà Nẵng, chắc chắn trong mỗi chúng ta không thể không nhớ tới thành phố biển Nha Trang xinh đẹp và những món thượng hạng được chế biến từ sản phẩm yến sào.

Theo Tạp chí Biển Việt Nam số tháng 1+2-2008.

Tìm Hiểu Về Loài Chim Chào Mào Và Các Loài Chim Cùng Họ

Chào mào là chim Châu Á, từ Ấn độ với phía Nam Trung Quốc và kéo dài xuống phía Đông Nam á xuống Singapore-Indonsesia. Sau này được nhập vào Australia và đã sinh sản một số chim CM tức là gốc Châu Á. Được nhập vào tiểu bang Haiwaii ở Mỹ và tiểu bang tôi ở bây giờ là Florida. Nghe nói hồi thập niên 60 có nhập từ Ấn độ qua vài cặp và qua cơn bão. Chúng đã thoát ra và đã sinh sản được cũng trên 100 con. Tôi có xuống nhưng chưa thấy ngoài hoang dã, có thể là do xuống buổi trưa nên chim không bay ra ngoài hót. Có thể mùa này sinh sản có thể tìm thấy, bởi đã có vài hình ảnh người Mỹ đi du lịch xem chim đã chụp thấy có. Về hình dáng thì: chim CM quanh thế giới đều có net như nhau to hoặc nhỏ, và giọng có thể khác nhau do vùng chim. Riêng Ấn Độ thì: chim có cách tách đỏ rất to và lại có loại CM không có chấm trắng nơi đuôi. Về ở VN ta thì theo nghiên cứu của Giá Sư Võ Quý thì, từ HN xuống đèo Hải Vân là một giống, có hình dáng to con. Từ đèo Hải Vân và đổi Cao Nguyên Trung Phần xuống mà Nam là một giống. Và có hình dáng thân hình nhỏ con hơn một tí. có tên tiếng Anh là Red-whiskered Bulbul, tên khoa học là (Pycnonotus jocosus) và là một thành viên trong bộ chim sẻ biết hót, được phân bố hầu hết khắp châu Á. Chúng chính là loài được giới thiệu ở các nước nhiệt đới châu Á và do đó, chúng có những khu vực dành riêng do chúng tạo lập. Chúng ăn trái cây và côn trùng nhỏ và dễ thấy trên các nhánh cây vì các “cuộc gọi của họ” từ 1 – 4 âm tiết. Chúng có một cái mào dễ nhận biết, hai má trắng và phía trên “mảng” trắng là màu đỏ do đó khiến chúng có tên tiếng Anh là râu đỏ (Red-whiskered). Tại Việt nam, tùy theo vùng miền mà chúng có tên gọi khác nhau: Hoành hoạch mồng, chóp mũ đỏ, đít đỏ … nhưng tên thông dụng nhất vẫn là

Chúng là một trong nhiều loại chim được mô tả đầu tiên bởi nhà động vật vật – thực vật học – bác sĩ người Thụy Điển Calorus Linnaeus vào năm 1758 trong một tập sách xuất bản viết về các công trình của ông có tên gọi là Systerma Naturae. Trong đó, ông đã đặt chúng cùng với họ bách thanh là “ Turaha pigli-Pitta bulbul Sipahi Kanera bulbu Phari Pettigrew-kick II. Sinh sản, hành vi sinh thái:

(sẽ có phần phụ lục giới thiệu về 5 loài chim trên trong họ hoành hoặch) Đây là loài chim lồng rất phổ biến tại các vùng Ấn Độ đã được ghi nhận trên tạp chí của Hiệp hội châu Á của Bengal. Chúng yêu cầu nuôi dạy sử dụng thế chiến trận/chiến thuật với dáng vẻ không hề sợ hãi. Chúng cũng được yêu cầu dạy dỗ cho đứng trên lòng bàn tay hoặc ngón tay. Và là loài đang phát triển mạnh mẽ trong thế giới chim lồng ở các vùng tiếp theo tại Đông Nam Á. – Phần gốc mũ ở đỉnh đầu rậm hay thưa (như cách gọi so sánh là mũ kim hay sừng mà chúng ta hay gọi).

Các phân loài có tên và vùng phân bố tập trung được liệt kê sau đây:

Pycnonotus jocosus jocosus (Linneaus, 1758) , được tìm thấy ở phía đông nam Trung Quốc – khu vực đông Quý Châu đến Quảng Tây, phía đông Quảng Đông và Hong Kong.

Pycnonotus jocosus pyrrhotis (Bonaparte, 1850) – Bắc Ấn Độ (từ phía đông Punjab đến Arunachal Pradesh) và Nepal. Có phần lưng nhạt màu, phần yếm hoàn chỉnh như phân loài Pycnonotus jocosus fuscicaudatus và phần lông đuôi có bông trắng rất rõ ràng.

Pycnonotus jocosus whistleri (Deignan, 1948) được tìm thấy trong các quần đảo Andaman, có một màu nâu ấm áp ở phần lưng, có mũ kim, yếm đen dày nhưng ngắn hơn nhiều so với phân loài Pycnonotus jocosus emeria.

Pycnonotus jocosus Pattani (Deignan, 1948) – phân bố ở phía cực nam của Myanmar, cực nam ở Tenasserim), Thái Lan, phía bắc bán đảo Malaysia, Lào và nam đông dương Đông Dương.

Pycnonotus jocosus peguensis được ghi nhận mô tả từ miền nam Miến Điện nhưng đến nay chưa được hiệp hội công nhận. Minh họa một số hình ảnh của từng phân loài

Masinagudi-Ooty Road, Khu Nilgiris, Tamil Nadu, Ấn Độ (ssp fuscicaudatus)

Chiang Mai, Chiang Mai, tỉnh Tây Bắc Thái Lan, Thái Lan (ssp

Qua đó, xác định giới tính con mái có những đặc điểm như:

Con mái: lông đỏ ngắn hơn con trống, chiều dài cánh ngắn hơn (kích thước do được là 78 – 85 mm), dáng nhỏ con.

Con trống: Chiều dài cánh dài hơn, kích thước từ 83 – 91, lông đỏ dài và dày hơn.

Sự khác biệt giữa hai giới tính ở chim (ảnh dưới) – con bên trái là con mái được so sánh cùng độ tuổi.

Đi sâu vào vấn đề của các loại quả chín, mọng nước và có sắc tố đỏ. Sắc tố đỏ được quyết định bởi chất vi lượng gọi là chất sắc (Fe) dưới dạng mà cơ cấu hấp thu của hệ thống tiêu hóa chim chào mào hấp thụ được. Hầu hết các hạt trong quả đỏ ấy đều có thành phần các hợp chất “nhầy nhầy” được bao bọc xung quanh hạt. Chính các lớp “nhầy nhầy” là thành phần đáng kể nhất, cung cấp đa vi lượng chất Fe nhiều nhất cho sự hoạt động tái tạo chất đỏ trên cơ thể chim chào mào. Đó là một cách sống chung để cùng phát triển: Cộng sinh!

Họ Chào mào (danh pháp khoa học: Pycnonotidae) là một họ chứa các loài chim biết hót kích thước trung bình thuộc bộ Sẻ, sinh sống tại châu Phi và nhiệt đới châu Á. Họ này chứa khoảng 130 loài. Tên gọi phổ biến trong tiếng Việt là chào mào, bông lau, hoành hoạch và cành cạch, trong đó tên gọi cành cạch được dùng cho các loài chim trong chi Criniger và Hypsipetes theo phân loại của Howard-Moore còn tên gọi chào mào là tên gọi dân dã cho ‘chào mào ria đỏ’ (Pycnonotus jocosus). Tên gọi này cũng áp dụng cho chi Spizixos và một vài loài khác trong chi Pycnonotus. Bông lau được sử dụng cho phần lớn các thành viên của chi Pycnonotus (ngoại trừ những loài nào gọi là chào mào). Tuy nhiên do không phải loài nào cũng có mặt tại Việt Nam nên trong bài gọi chung là chào mào khi có thể.

Chào mào má trắng, Pycnonotus leucogenys

Cành cạch tai nâu, Microscelis amaurotis (đôi khi gộp trong chi Ixos)

Chi Ixos (cận ngành) Gần với Hemixos

Cành cạch xám hay chào mào xám tro, Hemixos flavala

Cành cạch mỏ móc, Setornis criniger

Cành cạch ô liu, Iole virescens

Họ Chào mào (danh pháp khoa học: Pycnonotidae) là một họ chứa các loài chim biết hót kích thước trung bình thuộc bộ Sẻ, sinh sống tại châu Phi và nhiệt đới châu Á. Họ này chứa khoảng 130 loài.

Chào mào mỏ lớn, Spizixos canifrons

Tên gọi phổ biến trong tiếng Việt là chào mào, bông lau, hoành hoạch và cành cạch, trong đó tên gọi cành cạch được dùng cho các loài chim trong chi Alophoixus, Hemixos, Hypsipetes, Iole và Ixos còn tên gọi chào mào là tên gọi dân dã cho ‘chào mào ria đỏ’ (Pycnonotus jocosus). Tên gọi này cũng áp dụng cho chi Spizixos và một vài loài khác trong chi Pycnonotus. Bông lau được sử dụng cho phần lớn các thành viên của chi Pycnonotus (ngoại trừ những loài nào gọi là chào mào). Tuy nhiên do không phải loài nào cũng có mặt tại Việt Nam nên trong bài gọi chung là chào mào khi có thể.

Các loài chim này chủ yếu là chim ăn quả. Một số có màu sặc sỡ với huyệt, má, họng, lông mày có màu vàng, đỏ hay da cam, nhưng phần lớn có bộ lông buồn tẻ với màu chủ đạo là đen hay nâu ô liu đồng nhất. Một số loài có mào rất đặc biệt.

Nhiều loài sinh sống trên phần ngọn của cây cối trong khi một số loài chỉ sống ở các tầng cây thấp. Chúng đẻ tới 5 trứng có màu hồng tía trong các tổ trên cây và chim mái ấp trứng.

Chào mào (Pycnonotus jocosus) sinh sống rộng rãi trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chẳng hạn ở miền nam Florida, Hoa Kỳ.

Các sắp đặt truyền thống chia các loài chào mào thành 4 nhóm, gọi là các nhóm Pycnonotus, Phyllastrephus, Criniger và Chlorocichla theo các chi đặc trưng này. Tuy nhiên, các phân tích gần đây chứng minh rằng kiểu sắp xếp này có lẽ đã dựa trên diễn giải sai lầm các đặc trưng:

Greenbul vàng kim, Calyptocichla serina

Chào mào thuộc về nhóm Pycnonotus châu Á.

Chi Pycnonotus (cận ngành)

Chào mào vàng đầu đen, Pycnonotus atriceps

Bông lau họng vạch hay chào mào họng sọc, Pycnonotus finlaysoni

Chào mào ria đỏ hay chào mào, Pycnonotus jocosus

Bông lau ngực nâu hay chào mào ngực nâu, Pycnonotus xanthorrhous

Chào mào lưng bồng, Pycnonotus eutilotus

Chào mào đen trắng, Pycnonotus melanoleucus

Chào mào vàng mào đen, Pycnonotus melanicterus

Cành cạch Philippine, Hypsipetes philippinus – trước đây trong chi Ixos

Chào mào bụng xám, Pycnonotus cyaniventris

Bông lau nâu nhỏ hay chào mào bốn mắt, Pycnonotus erythropthalmos

Chào mào đầu vàng rơm, Pycnonotus zeylanicus

Chào mào mắt đỏ, Pycnonotus brunneus

Chào mào cánh ô liu, Pycnonotus plumosus

Bông lau mày trắng hay chào mào huyệt vàng, Pycnonotus goiavier

Chào mào ngực đen, Pycnonotus nigricans

Chào mào má trắng, Pycnonotus leucogenys

Chào mào thường, Pycnonotus barbatus

Chào mào vạch hay chào mào vằn, Pycnonotus striatus

Chào mào sọc kem, Pycnonotus leucogrammicus

Chào mào cổ đốm, Pycnonotus tympanistrigus

Chào mào đầu xám, Pycnonotus priocephalus

Chào mào Styan, Pycnonotus taivanus

Chào mào ngực vảy, Pycnonotus squamatus

Bông lau Trung Quốc hay chào mào huyệt sáng, Pycnonotus sinensis

Chào mào Cape, Pycnonotus capensis (loài điển hình)

Chào mào kính trắng, Pycnonotus xanthopygos

Chào mào tai trắng, Pycnonotus leucotis

Bông lau đít đỏ hay chào mào huyệt đỏ, Pycnonotus cafer

Bông lau tai trắng hay chào mào đầu than hoặc bông lau đít đỏ, Pycnonotus aurigaster

Chào mào yếm lam, Pycnonotus nieuwenhuisii (tranh cãi)

Chào mào yếm vàng, Pycnonotus urostictus

Chào mào đốm cam, Pycnonotus bimaculatus

Chào mào họng vàng, Pycnonotus xantholaemus

Chào mào tai vàng, Pycnonotus penicillatus

Bông lau vàng hay chào mào Flavescent, Pycnonotus flavescens

Chào mào trán trắng, Pycnonotus luteolus

Bông lau tai vằn hay chào mào tai sọc, Pycnonotus blanfordi

Chào mào huyệt kem, Pycnonotus simplex

Chào mào khoang cổ, Spizixos semitorques

Chào mào mỏ lớn, Spizixos canifrons

Chào mào khoang cổ, Spizixos semitorques

Cành cạch lưng rậm lông, Tricholestes criniger

Cành cạch mỏ móc, Setornis criniger

Chi Alophoixus – trước đây gộp trong chi Criniger, có thể là đa ngành

Cành cạch Finsch, Alophoixus finschii

Cành cạch họng trắng, Alophoixus flaveolus

Cành cạch lớn hay cành cạch họng bồng, Alophoixus pallidus

Cành cạch bụng hung hay cành cạch đất son, Alophoixus ochraceus

Cành cạch má xám, Alophoixus bres

Cành cạch bụng vàng, Alophoixus phaeocephalus

Cành cạch vàng kim, Alophoixus affinis

Cành cạch ô liu, Iole virescens

Cành cạch nhỏ hay chào mào mắt xám, Iole propinqua

Cành cạch huyệt vàng da bò, Iole olivacea

Cành cạch trán vàng, Iole indica

Cành cạch xám hay chào mào xám tro, Hemixos flavala

Cành cạch hung hay chào mào nâu dẻ, Hemixos castanonotus

Cành cạch Mã Lai hay chào mào sọc, Ixos malaccensis

Cành cạch bụng vàng, Ixos palawanensis – Hypsipetes?

Cành cạch ngực sọc, Ixos siquijorensis – Hypsipetes?

Cành cạch vàng nhạt, Ixos everetti

Cành cạch Zamboanga, Ixos rufigularis

Cành cạch núi hay chào mào núi, Ixos mcclellandii

Cành cạch Sunda, Ixos virescens

Cành cạch tai nâu, Microscelis amaurotis (đôi khi gộp trong chi Ixos)

Cành cạch Philippine, Hypsipetes philippinus – trước đây trong chi Ixos

Cành cạch Madagascar, Hypsipetes madagascariensis

Cành cạch đen hay chào mào đen, Hypsipetes leucocephalus

Cành cạch Seychelles, Hypsipetes crassirostris

Cành cạch thông thường, Hypsipetes parvirostris

Cành cạch Reunion, Hypsipetes borbonicus

Cành cạch Mauritius, Hypsipetes olivaceus

Cành cạch Nicobar, Hypsipetes virescens

Cành cạch đầu trắng, Hypsipetes thompsoni

Greenbul điển hình và đồng minh

Chi Phyllastrephus (19 loài)

Chi Andropadus (12 loài; có thể đa ngành)

Chi Thescelocichla – Greenbul đầm lầy

Chi Chlorocichla (6 loài)

Chi Ixonotus – Greenbul đốm (đặt vào đây không chắc chắn)

Chi Bleda – chim mỏ cứng (3 loài)

Chào mào vòng cổ đen, Neolestes torquatus

Nó có thể là đồng minh của chi Calyptocichla hay không phải là chào mào thật sự.

Tách ra gần đây từ Pycnonotidae

Greenbul mỏ dài ở Madagascar hiện nay được coi là thuộc về nhóm chích Malagasy.

Hiện nay trong chích Malagasy

Chi Bernieria – trước đây trong chi Phyllastrephus

Greenbul mỏ dài, Bernieria madagascariensis

Chi Xanthomixis – trước đây trong chi Phyllastrephus; có thể đa ngành

Greenbul khoang mắt, Xanthomixis zosterops

Tetraka Appert, Xanthomixis apperti

Greenbul tối màu, Xanthomixis tenebrosus

Greenbul đầu xám, Xanthomixis cinereiceps

Nicator đốm vàng, Nicator chloris

Nicator miền đông, Nicator gularis

Chào mào thuộc về nhóm Pycnonotus châu Á.

Bông lau họng vạch hay chào mào họng sọc, Pycnonotus finlaysoni

Bông lau ngực nâu hay chào mào ngực nâu, Pycnonotus xanthorrhous

Chào mào lưng bồng, Pycnonotus eutilotus

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tìm Hiểu Loài Chim Biểu Tượng Của Nước Mỹ trên website Lamdeppanasonic.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!