Top 21 # Xem Nhiều Nhất Chim Họ Vẹt / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Lamdeppanasonic.com

Họ Chào Mào Và Chào Mào / 2023

Họ chào mào có thể nói không hẳn là giống chim quý nhưng trong họ chim này có rất nhiều giống chim chào mào được yêu thích bởi những người nuôi chim kiểng. Trong tương lai, người ta đang lo ngại có những loài chim chào mào sẽ biến mất do môi trường sống của chúng bị đe dọa nghiêm trọng.

Giới thiệu chung về họ chào mào

Là họ chim biết hót, dáng vẻ nhỏ nhắn và bộ lông có những đặc trưng rất riêng, các giống chim trong họ chào mào hầu như đều gây thiện cảm nơi bất cứ ai tiếp xúc. Với tên khoa học là Pycnonontidae và thuộc bộ sẻ, họ chào mào có khoảng 149 loài, phân bổ chủ yếu ở vùng nhiệt đới Châu Á và Châu Phi. Họ chào mào chủ yếu ăn quả, một số loài sống ở phần ngọn cây, nhưng cũng có một số khác sống ở tầng cây thấp. Đặc biệt, họ chào mào đẻ đến 5 trứng, trứng có màu hồng tía và do chim mái ấp.

Trong họ chào mào, bộ lông của chúng đa phần có màu chính là đen hoặc nâu ô liu, nhưng một số loài có màu sắc khá ấn tượng với huyệt, má, họng, lông mày màu vàng hoặc cam hoặc đỏ. Có rất nhiều loài có mào trông thật ấn tượng, nhìn là có thể phân biệt được ngay chúng thuộc họ chào mào.

Giới thiệu chung về chào mào

Họ chào mào tuy có gần 150 loài, song không phải loài nào cũng được dân nuôi chim kiểng chọn và nuôi nấng vì các loài phân bổ ở rất nhiều nơi trên thế giới. Trong họ chào mào, cái tên phổ biến nhất được nhắc đến trong nuôi chim kiểng là chào mào có tên khoa học là Pycnonotus jocosus, phân bố nhiều nhất ở Châu Á.

Chào mào được cho là có 9 loài gồm pynnonotus jocosus jocosus tập trung ở phía đông nam Trung Quốc và Hồng Kông, pynnonotus jocosus fuscicaudatus; pynnonotus jocosus abuensis; pynnonotus jocosus pyrrhotis; pynnonotus jocosus emeria tập trung ở Ấn Độ, pynnonotus jocosus whistleri phân bổ ở các quần đảo Andaman, pynnonotus jocosus monticola tập trung ở Himalaya; Tây Tạng; Myamar và Trung Quốc, pynnonotus jocosus Pattani tập trung ở Myamar; Thái Lan; bắc Malaysia; Lào và Nam Đông Dương, pynnonotus jocosus hainanensis tập trung ở Việt Nam và nam Trung Quốc.

Dù trông đơn giản về hình thể nhưng khó phân biệt loài và giống, cái tên chào mào cũng khiến cho người ta cảm giác như chào mào có một hành trình lưu lạc khá dài khắp các châu lục và các quốc gia trên thế giới. Gọi chung chào mào là pynnonotus jocosus nhưng tiếng Anh nó có tên là red-whiskered, người Pháp họi chúng là Bulbul orphee, ở Đức là Rotohrbulbul, ở Tây Ban Nha là Bulbul Orfeo, còn ở Việt Nam chào mào dù được gọi chung bằng chào mào, nhưng tùy vào màu lông và nhiều đặc điểm đặc trưng giống loài, người ta gọi bằng nhiều tên khác nhau khá phong phú như Chóp mào, Hoàng hoạch mồng, chóp mũ đỏ, đít đỏ,…

Để phân biệt các loài chào mào người ta thường dựa vào hình dạng yếm, độ đậm nhạt dày mỏng của miếng vá, màu sắc trên lưng, phần trắng của lông đuôi, gốc mũ ở đỉnh đầu chim thưa hay dày và kích thước hình thể. Tuy vậy, chào mào vốn rất khó để phân biệt, ngay cả đến việc phân biệt con trống con mái cũng phải dựa vào rất nhiều yếu tố, cho nên thường vấn đề phân biệt chào mào chỉ dành cho những người thực sự yêu thích và nghiên cứu về nó, còn lại những người chơi chim kiểng bình thường không tập trung quá nhiều vào việc phân loại hay xác định loài, ngoại trừ việc chọn lựa cho mình những chú chim chào mào có màu sắc lông mình yêu thích và có giọng hay.

Với dáng vẻ nhỏ nhắn thiện cảm, siêng hót và giọng khá trong trẻo, chào mào vì thế hầu như được mọi người yêu thích chim kiểng trên thế giới chọn nuôi. Trong quá trình nuôi, người ta có thể bắt gặp chim hót suốt ngày, hay bung cánh và nhảy nhót khá thích mắt. Cũng chính vì những đặc điểm này, tại Việt Nam đã từng dấy lên những làn sóng nuôi chim chào mào mạnh mẽ. Hiện nay phong trào nuôi chim chào mào có vẻ tạm lắng, song nhiều người yêu chim kiểng và thích thú với chào mào hầu như đều sở hữu ít nhất vài con, trong bộ sưu tập chim kiểng phong phú của mình.

Họ Yến – Du Học Trung Quốc 2022 / 2023

Đối với các định nghĩa khác, xem Yến

Họ Yến hay họ Vũ yến (danh pháp khoa học: Apodidae) là một họ chim có bề ngoài rất giống với các loài én (họ Hirundinidae) nhưng thực ra chúng không có quan hệ họ hàng gần với những loài chim dạng sẻ này. Các loài yến tạo thành một phần của bộ Yến (Apodiformes), cùng với các họ như họ Chim ruồi (Trochilidae) và họ Yến mào (Hemiprocnidae). Các loài yến mào có quan hệ họ hàng gần nhất với các loài vũ yến này.

Sự tương tự giữa yến và én là do tiến hóa hội tụ, phản ánh kiểu sinh sống tương tự dựa trên việc bắt các côn trùng làm thức ăn trong khi đang bay.

Tên gọi khoa học của họ này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại απους, apous, nghĩa là “không có chân”, do yến có các chân rất ngắn và không bao giờ đậu trên mặt đất mà chỉ bám vào các bề mặt thẳng đứng. Truyền thống mô tả yến không có chân còn tiếp tục tới tận thời kỳ Trung cổ, như được thấy ở dạng martlet (chim trên huy hiệu ở Tây Âu thời Trung cổ).

Yến là những loài chim ở trên không nhiều nhất và một số, như yến thông thường, thậm chí ngủ và giao phối khi bay. Các loài lớn, như yến đuôi nhọn họng trắng (Hirundapus caudacutus), là một trong những loài bay nhanh nhất trong giới động vật. Một nhóm, yến hang (tông Collocalini) đã phát triển một dạng định vị bằng tiếng vang để dò tìm đường bay trong các hệ thống hang động tối tăm nơi chúng đậu để ngủ. Một loài, Aerodramus papuensis gần đây được phát hiện là có sử dụng kiểu định vị này vào thời gian ban đêm ở bên ngoài hang nơi nó đậu ngủ. Các loài yến phân bố rộng khắp thế giới trong khu vực nhiệt đới và ôn đới, nhưng giống như các loài én, các loài yến vùng ôn đới là những loài chim di trú và mùa đông chúng bay về vùng nhiệt đới.

Nhiều loài yến có hình dáng đặc trưng, với đuôi ngắn và chẻ, các cánh dài cụp về phía sau, trông tương tự như trăng lưỡi liềm hay boomerang. Kiểu bay của một số loài được đặc trưng bằng hành động “vụt” đặc biệt rất khác với kiểu bay ở én. Kích thước các loài yến dao động từ nhỏ như ở yến lùn (Collocalia troglodytes), chỉ cân nặng 5,4 g và dài 9 cm (3,7 inch) tới yến đuôi nhọn tía (Hirundapus celebensis), cân nặng 184 g (6,5 oz) và dài 25 cm (10 inch).

Tổ của nhiều loài được kết dính trên các bề mặt dốc đứng bằng nước bọt, và các loài chi Aerodramus chỉ sử dụng nước bọt để làm tổ, và đây là cơ sở của món yến sào.

Tìm Hiểu Về Loài Chim Chào Mào Và Các Loài Chim Cùng Họ / 2023

Chào mào là chim Châu Á, từ Ấn độ với phía Nam Trung Quốc và kéo dài xuống phía Đông Nam á xuống Singapore-Indonsesia. Sau này được nhập vào Australia và đã sinh sản một số chim CM tức là gốc Châu Á. Được nhập vào tiểu bang Haiwaii ở Mỹ và tiểu bang tôi ở bây giờ là Florida. Nghe nói hồi thập niên 60 có nhập từ Ấn độ qua vài cặp và qua cơn bão. Chúng đã thoát ra và đã sinh sản được cũng trên 100 con. Tôi có xuống nhưng chưa thấy ngoài hoang dã, có thể là do xuống buổi trưa nên chim không bay ra ngoài hót. Có thể mùa này sinh sản có thể tìm thấy, bởi đã có vài hình ảnh người Mỹ đi du lịch xem chim đã chụp thấy có. Về hình dáng thì: chim CM quanh thế giới đều có net như nhau to hoặc nhỏ, và giọng có thể khác nhau do vùng chim. Riêng Ấn Độ thì: chim có cách tách đỏ rất to và lại có loại CM không có chấm trắng nơi đuôi. Về ở VN ta thì theo nghiên cứu của Giá Sư Võ Quý thì, từ HN xuống đèo Hải Vân là một giống, có hình dáng to con. Từ đèo Hải Vân và đổi Cao Nguyên Trung Phần xuống mà Nam là một giống. Và có hình dáng thân hình nhỏ con hơn một tí. có tên tiếng Anh là Red-whiskered Bulbul, tên khoa học là (Pycnonotus jocosus) và là một thành viên trong bộ chim sẻ biết hót, được phân bố hầu hết khắp châu Á. Chúng chính là loài được giới thiệu ở các nước nhiệt đới châu Á và do đó, chúng có những khu vực dành riêng do chúng tạo lập. Chúng ăn trái cây và côn trùng nhỏ và dễ thấy trên các nhánh cây vì các “cuộc gọi của họ” từ 1 – 4 âm tiết. Chúng có một cái mào dễ nhận biết, hai má trắng và phía trên “mảng” trắng là màu đỏ do đó khiến chúng có tên tiếng Anh là râu đỏ (Red-whiskered). Tại Việt nam, tùy theo vùng miền mà chúng có tên gọi khác nhau: Hoành hoạch mồng, chóp mũ đỏ, đít đỏ … nhưng tên thông dụng nhất vẫn là

Chúng là một trong nhiều loại chim được mô tả đầu tiên bởi nhà động vật vật – thực vật học – bác sĩ người Thụy Điển Calorus Linnaeus vào năm 1758 trong một tập sách xuất bản viết về các công trình của ông có tên gọi là Systerma Naturae. Trong đó, ông đã đặt chúng cùng với họ bách thanh là “ Turaha pigli-Pitta bulbul Sipahi Kanera bulbu Phari Pettigrew-kick II. Sinh sản, hành vi sinh thái:

(sẽ có phần phụ lục giới thiệu về 5 loài chim trên trong họ hoành hoặch) Đây là loài chim lồng rất phổ biến tại các vùng Ấn Độ đã được ghi nhận trên tạp chí của Hiệp hội châu Á của Bengal. Chúng yêu cầu nuôi dạy sử dụng thế chiến trận/chiến thuật với dáng vẻ không hề sợ hãi. Chúng cũng được yêu cầu dạy dỗ cho đứng trên lòng bàn tay hoặc ngón tay. Và là loài đang phát triển mạnh mẽ trong thế giới chim lồng ở các vùng tiếp theo tại Đông Nam Á. – Phần gốc mũ ở đỉnh đầu rậm hay thưa (như cách gọi so sánh là mũ kim hay sừng mà chúng ta hay gọi).

Các phân loài có tên và vùng phân bố tập trung được liệt kê sau đây:

Pycnonotus jocosus jocosus (Linneaus, 1758) , được tìm thấy ở phía đông nam Trung Quốc – khu vực đông Quý Châu đến Quảng Tây, phía đông Quảng Đông và Hong Kong.

Pycnonotus jocosus pyrrhotis (Bonaparte, 1850) – Bắc Ấn Độ (từ phía đông Punjab đến Arunachal Pradesh) và Nepal. Có phần lưng nhạt màu, phần yếm hoàn chỉnh như phân loài Pycnonotus jocosus fuscicaudatus và phần lông đuôi có bông trắng rất rõ ràng.

Pycnonotus jocosus whistleri (Deignan, 1948) được tìm thấy trong các quần đảo Andaman, có một màu nâu ấm áp ở phần lưng, có mũ kim, yếm đen dày nhưng ngắn hơn nhiều so với phân loài Pycnonotus jocosus emeria.

Pycnonotus jocosus Pattani (Deignan, 1948) – phân bố ở phía cực nam của Myanmar, cực nam ở Tenasserim), Thái Lan, phía bắc bán đảo Malaysia, Lào và nam đông dương Đông Dương.

Pycnonotus jocosus peguensis được ghi nhận mô tả từ miền nam Miến Điện nhưng đến nay chưa được hiệp hội công nhận. Minh họa một số hình ảnh của từng phân loài

Masinagudi-Ooty Road, Khu Nilgiris, Tamil Nadu, Ấn Độ (ssp fuscicaudatus)

Chiang Mai, Chiang Mai, tỉnh Tây Bắc Thái Lan, Thái Lan (ssp

Qua đó, xác định giới tính con mái có những đặc điểm như:

Con mái: lông đỏ ngắn hơn con trống, chiều dài cánh ngắn hơn (kích thước do được là 78 – 85 mm), dáng nhỏ con.

Con trống: Chiều dài cánh dài hơn, kích thước từ 83 – 91, lông đỏ dài và dày hơn.

Sự khác biệt giữa hai giới tính ở chim (ảnh dưới) – con bên trái là con mái được so sánh cùng độ tuổi.

Đi sâu vào vấn đề của các loại quả chín, mọng nước và có sắc tố đỏ. Sắc tố đỏ được quyết định bởi chất vi lượng gọi là chất sắc (Fe) dưới dạng mà cơ cấu hấp thu của hệ thống tiêu hóa chim chào mào hấp thụ được. Hầu hết các hạt trong quả đỏ ấy đều có thành phần các hợp chất “nhầy nhầy” được bao bọc xung quanh hạt. Chính các lớp “nhầy nhầy” là thành phần đáng kể nhất, cung cấp đa vi lượng chất Fe nhiều nhất cho sự hoạt động tái tạo chất đỏ trên cơ thể chim chào mào. Đó là một cách sống chung để cùng phát triển: Cộng sinh!

Họ Chào mào (danh pháp khoa học: Pycnonotidae) là một họ chứa các loài chim biết hót kích thước trung bình thuộc bộ Sẻ, sinh sống tại châu Phi và nhiệt đới châu Á. Họ này chứa khoảng 130 loài. Tên gọi phổ biến trong tiếng Việt là chào mào, bông lau, hoành hoạch và cành cạch, trong đó tên gọi cành cạch được dùng cho các loài chim trong chi Criniger và Hypsipetes theo phân loại của Howard-Moore còn tên gọi chào mào là tên gọi dân dã cho ‘chào mào ria đỏ’ (Pycnonotus jocosus). Tên gọi này cũng áp dụng cho chi Spizixos và một vài loài khác trong chi Pycnonotus. Bông lau được sử dụng cho phần lớn các thành viên của chi Pycnonotus (ngoại trừ những loài nào gọi là chào mào). Tuy nhiên do không phải loài nào cũng có mặt tại Việt Nam nên trong bài gọi chung là chào mào khi có thể.

Chào mào má trắng, Pycnonotus leucogenys

Cành cạch tai nâu, Microscelis amaurotis (đôi khi gộp trong chi Ixos)

Chi Ixos (cận ngành) Gần với Hemixos

Cành cạch xám hay chào mào xám tro, Hemixos flavala

Cành cạch mỏ móc, Setornis criniger

Cành cạch ô liu, Iole virescens

Họ Chào mào (danh pháp khoa học: Pycnonotidae) là một họ chứa các loài chim biết hót kích thước trung bình thuộc bộ Sẻ, sinh sống tại châu Phi và nhiệt đới châu Á. Họ này chứa khoảng 130 loài.

Chào mào mỏ lớn, Spizixos canifrons

Tên gọi phổ biến trong tiếng Việt là chào mào, bông lau, hoành hoạch và cành cạch, trong đó tên gọi cành cạch được dùng cho các loài chim trong chi Alophoixus, Hemixos, Hypsipetes, Iole và Ixos còn tên gọi chào mào là tên gọi dân dã cho ‘chào mào ria đỏ’ (Pycnonotus jocosus). Tên gọi này cũng áp dụng cho chi Spizixos và một vài loài khác trong chi Pycnonotus. Bông lau được sử dụng cho phần lớn các thành viên của chi Pycnonotus (ngoại trừ những loài nào gọi là chào mào). Tuy nhiên do không phải loài nào cũng có mặt tại Việt Nam nên trong bài gọi chung là chào mào khi có thể.

Các loài chim này chủ yếu là chim ăn quả. Một số có màu sặc sỡ với huyệt, má, họng, lông mày có màu vàng, đỏ hay da cam, nhưng phần lớn có bộ lông buồn tẻ với màu chủ đạo là đen hay nâu ô liu đồng nhất. Một số loài có mào rất đặc biệt.

Nhiều loài sinh sống trên phần ngọn của cây cối trong khi một số loài chỉ sống ở các tầng cây thấp. Chúng đẻ tới 5 trứng có màu hồng tía trong các tổ trên cây và chim mái ấp trứng.

Chào mào (Pycnonotus jocosus) sinh sống rộng rãi trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chẳng hạn ở miền nam Florida, Hoa Kỳ.

Các sắp đặt truyền thống chia các loài chào mào thành 4 nhóm, gọi là các nhóm Pycnonotus, Phyllastrephus, Criniger và Chlorocichla theo các chi đặc trưng này. Tuy nhiên, các phân tích gần đây chứng minh rằng kiểu sắp xếp này có lẽ đã dựa trên diễn giải sai lầm các đặc trưng:

Greenbul vàng kim, Calyptocichla serina

Chào mào thuộc về nhóm Pycnonotus châu Á.

Chi Pycnonotus (cận ngành)

Chào mào vàng đầu đen, Pycnonotus atriceps

Bông lau họng vạch hay chào mào họng sọc, Pycnonotus finlaysoni

Chào mào ria đỏ hay chào mào, Pycnonotus jocosus

Bông lau ngực nâu hay chào mào ngực nâu, Pycnonotus xanthorrhous

Chào mào lưng bồng, Pycnonotus eutilotus

Chào mào đen trắng, Pycnonotus melanoleucus

Chào mào vàng mào đen, Pycnonotus melanicterus

Cành cạch Philippine, Hypsipetes philippinus – trước đây trong chi Ixos

Chào mào bụng xám, Pycnonotus cyaniventris

Bông lau nâu nhỏ hay chào mào bốn mắt, Pycnonotus erythropthalmos

Chào mào đầu vàng rơm, Pycnonotus zeylanicus

Chào mào mắt đỏ, Pycnonotus brunneus

Chào mào cánh ô liu, Pycnonotus plumosus

Bông lau mày trắng hay chào mào huyệt vàng, Pycnonotus goiavier

Chào mào ngực đen, Pycnonotus nigricans

Chào mào má trắng, Pycnonotus leucogenys

Chào mào thường, Pycnonotus barbatus

Chào mào vạch hay chào mào vằn, Pycnonotus striatus

Chào mào sọc kem, Pycnonotus leucogrammicus

Chào mào cổ đốm, Pycnonotus tympanistrigus

Chào mào đầu xám, Pycnonotus priocephalus

Chào mào Styan, Pycnonotus taivanus

Chào mào ngực vảy, Pycnonotus squamatus

Bông lau Trung Quốc hay chào mào huyệt sáng, Pycnonotus sinensis

Chào mào Cape, Pycnonotus capensis (loài điển hình)

Chào mào kính trắng, Pycnonotus xanthopygos

Chào mào tai trắng, Pycnonotus leucotis

Bông lau đít đỏ hay chào mào huyệt đỏ, Pycnonotus cafer

Bông lau tai trắng hay chào mào đầu than hoặc bông lau đít đỏ, Pycnonotus aurigaster

Chào mào yếm lam, Pycnonotus nieuwenhuisii (tranh cãi)

Chào mào yếm vàng, Pycnonotus urostictus

Chào mào đốm cam, Pycnonotus bimaculatus

Chào mào họng vàng, Pycnonotus xantholaemus

Chào mào tai vàng, Pycnonotus penicillatus

Bông lau vàng hay chào mào Flavescent, Pycnonotus flavescens

Chào mào trán trắng, Pycnonotus luteolus

Bông lau tai vằn hay chào mào tai sọc, Pycnonotus blanfordi

Chào mào huyệt kem, Pycnonotus simplex

Chào mào khoang cổ, Spizixos semitorques

Chào mào mỏ lớn, Spizixos canifrons

Chào mào khoang cổ, Spizixos semitorques

Cành cạch lưng rậm lông, Tricholestes criniger

Cành cạch mỏ móc, Setornis criniger

Chi Alophoixus – trước đây gộp trong chi Criniger, có thể là đa ngành

Cành cạch Finsch, Alophoixus finschii

Cành cạch họng trắng, Alophoixus flaveolus

Cành cạch lớn hay cành cạch họng bồng, Alophoixus pallidus

Cành cạch bụng hung hay cành cạch đất son, Alophoixus ochraceus

Cành cạch má xám, Alophoixus bres

Cành cạch bụng vàng, Alophoixus phaeocephalus

Cành cạch vàng kim, Alophoixus affinis

Cành cạch ô liu, Iole virescens

Cành cạch nhỏ hay chào mào mắt xám, Iole propinqua

Cành cạch huyệt vàng da bò, Iole olivacea

Cành cạch trán vàng, Iole indica

Cành cạch xám hay chào mào xám tro, Hemixos flavala

Cành cạch hung hay chào mào nâu dẻ, Hemixos castanonotus

Cành cạch Mã Lai hay chào mào sọc, Ixos malaccensis

Cành cạch bụng vàng, Ixos palawanensis – Hypsipetes?

Cành cạch ngực sọc, Ixos siquijorensis – Hypsipetes?

Cành cạch vàng nhạt, Ixos everetti

Cành cạch Zamboanga, Ixos rufigularis

Cành cạch núi hay chào mào núi, Ixos mcclellandii

Cành cạch Sunda, Ixos virescens

Cành cạch tai nâu, Microscelis amaurotis (đôi khi gộp trong chi Ixos)

Cành cạch Philippine, Hypsipetes philippinus – trước đây trong chi Ixos

Cành cạch Madagascar, Hypsipetes madagascariensis

Cành cạch đen hay chào mào đen, Hypsipetes leucocephalus

Cành cạch Seychelles, Hypsipetes crassirostris

Cành cạch thông thường, Hypsipetes parvirostris

Cành cạch Reunion, Hypsipetes borbonicus

Cành cạch Mauritius, Hypsipetes olivaceus

Cành cạch Nicobar, Hypsipetes virescens

Cành cạch đầu trắng, Hypsipetes thompsoni

Greenbul điển hình và đồng minh

Chi Phyllastrephus (19 loài)

Chi Andropadus (12 loài; có thể đa ngành)

Chi Thescelocichla – Greenbul đầm lầy

Chi Chlorocichla (6 loài)

Chi Ixonotus – Greenbul đốm (đặt vào đây không chắc chắn)

Chi Bleda – chim mỏ cứng (3 loài)

Chào mào vòng cổ đen, Neolestes torquatus

Nó có thể là đồng minh của chi Calyptocichla hay không phải là chào mào thật sự.

Tách ra gần đây từ Pycnonotidae

Greenbul mỏ dài ở Madagascar hiện nay được coi là thuộc về nhóm chích Malagasy.

Hiện nay trong chích Malagasy

Chi Bernieria – trước đây trong chi Phyllastrephus

Greenbul mỏ dài, Bernieria madagascariensis

Chi Xanthomixis – trước đây trong chi Phyllastrephus; có thể đa ngành

Greenbul khoang mắt, Xanthomixis zosterops

Tetraka Appert, Xanthomixis apperti

Greenbul tối màu, Xanthomixis tenebrosus

Greenbul đầu xám, Xanthomixis cinereiceps

Nicator đốm vàng, Nicator chloris

Nicator miền đông, Nicator gularis

Chào mào thuộc về nhóm Pycnonotus châu Á.

Bông lau họng vạch hay chào mào họng sọc, Pycnonotus finlaysoni

Bông lau ngực nâu hay chào mào ngực nâu, Pycnonotus xanthorrhous

Chào mào lưng bồng, Pycnonotus eutilotus

8 Loài Chim Vẹt Việt Nam / 2023

Bộ Vẹt Ở Việt Nan chỉ bao gồm 8 loài, tập trung ở các vùng rừng núi miền Trung và Nam bộ

Có thể khẳng định rằng, một trong những lí do khiến nhiều người thích nuôi vẹt chính là bộ lông sặc sỡ tuyệt đẹp của chúng. Đó là cả một sự pha trộn màu sắc thật tuyệt diệu, khiến người chơi cứ phải ngắm mãi không biết chán, say mê mãi không biết ngừng. Nhưng nếu chỉ thế thôi, thì con vẹt không thể gắn bó với cuộc sống của loài người hơn hẳn các loài chim khác như bấy lâu nay. Ấy bởi là vì ngoài sắc màu sặc sỡ của bộ lông, loài vẹt còn có một thần thái, tính cách đặc biệt, rất nhân tính, rất “người”, khiến ta luôn có cảm tưởng rằng chúng biết suy nghĩ, không những vậy, biết lắng nghe và cả cảm thông. Vẹt gần gũi với loài người đến mức độ tin cậy hòan toàn, chúng sẵn sàng ăn chung, ngủ chung… với con người, trung thành tuyệt đối và hơn thế, còn là một người bạn cực tốt có khả năng chia sẻ và xoa dịu những buồn đau. Đó cũng là lí do vì sao mà loài vẹt trở thành một trong những cộng sự đắc lực của ngành y trong việc điều trị các chấn thương về tâm lí, đặc biệt là ở trẻ nhỏ.

Khi bạn có một chú vẹt, không những là bạn có thêm một cơ hội bày tỏ tình yêu của mình với thiên nhiên, mà hơn thế nữa, bạn sẽ có thêm một sự an ủi mỗi khi phiền muộn. Bạn sẽ có thêm một tâm hồn đồng điệu biết sẻ chia cảm xúc, bạn sẽ biết vui, biết buồn, biết yêu, biết giận dỗi và thậm chí cả hờn ghen… Nghe có vẻ lạ mà thực ra không hề lạ, vì với loài vẹt, bạn sẽ cảm nhận được tình yêu đặc biệt mà con người gần như không thể có: một tình yêu hiến dâng tuyệt đối không đòi hỏi, không so đo tính tóan thiệt hơn!

8. Long-tail Parakeet – Psittacula longicauda – Vẹt đuôi dài