Tuổi Thọ Của Các Loài Chim

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Nuôi Chim Cảnh (Kiểng) Hót
  • Có Được Mang Vật Nuôi Lên Máy Bay Không? Cần Chú Ý Điều Gì?
  • Chim Rừng “khóc” Trên Phố Quảng!
  • Thú Chơi ‘bậc Quân Vương’ Chim Cảnh Ở Việt Nam
  • Người Huế Với Thú Chơi Chim Cảnh
  • 10. Tuổi thọ của các loài chim

    Việc tìm hiểu tuổi đời của các loài chim hoang dại, dù đã được chú ý nghiên cứu hơn nửa thế kỷ qua, nhưng cho đến nay người ta cũng chưa biết được gì nhiều lắm. Đây là một vấn đề khá phức tạp, vì chim sống tự do trong thiên nhiên, nay đây mai đó, biết chúng chết lúc nào mà theo dõi, ghi chép. Dùng phương pháp đeo vòng, người ta cũng đã biết được ít nhiều, nhưng lúc bắt lại được chim đeo vòng có phải đã là lúc chim già nhất chưa thì cũng còn phải bàn cãi. Để biết được tuổi đời của các loại chim hoang dại một cách chính xác, phương pháp chắc chắn nhất vẫn là theo dõi chúng ở các vườn nuôi. Nhưng tiếc thay số loài chim hoang dại đã được nuôi từ trước đến nay không phải là nhiều, vả lại do điều kiện sinh sống của chúng trong vườn nuôi, không hoàn toàn giống với điều kiện thiên nhiên, nên tuổi thọ của các cá thể sống trong vườn nuôi cũng có phần sai khác với tuổi thọ của đồng loại của chúng sống trong thiên nhiên. Trong thiên nhiên có lẽ chim gặp nhiều khó khăn hơn ở vườn nuôi về điều kiện khí hậu, về thức ăn, kẻ thù và bệnh tật v.v…, và cũng vì vậy mà tuổi thọ của chim nuôi có lẽ dài hơn so với chim sống trong thiên nhiên. Nói chung, chim có kích thước lớn thường sống lâu hơn chim có kích thước bé, nhưng cũng không phải chim lớn nhất đã có tuổi thọ cao nhất. Đà điểu châu Phi, loài chim hiện đại có cỡ lớn nhất nhưng chỉ sống được khoảng 30 – 40 năm, trong lúc đó dù dì, nhỏ hơn đà điểu nhiều mà thọ đến 68 tuổi.

    Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu mấy lâu nay thì tuổi thọ trung bình của các loài chim cùng một nhóm phân loại, không khác nhau nhiều lắm. Tuổi thọ trung bình của chim thuộc bộ Sẻ và bộ Vẹt là 20 năm, của Cú 15 năm, của chim cắt 21 – 24 năm, vịt, ngỗng 20 năm, rẽ giun 10 năm, mòng biển 17 năm, bồ câu 12 năm và gà 13 năm. Đây tuổi thọ của gà rừng, còn gà nhà thì có thể sống 24 – 25 năm và thậm chí có con sống được 30 năm.

    Tuổi thọ của một số loài cụ thể được xem như cao nhất đối với loài đó có thể kể như sau. Trong bộ Sẻ thì quạ sống được lâu nhất, có một con đã sống đến tuổi 60 và một con khác đến tuổi 69. Các loài chim sẻ bé có tuổi thọ thấp hơn: chim chích đầu đen 24 năm, hoét 20 năm, sơn ca 20 năm. Trong bộ Cú thì dù dì sống lâu nhất 34, 53 và 68 năm. Trong bộ Vẹt, có vẹt mào châu Úc sống đến 56 năm, và vẹt đỏ Bắc Mỹ 64 năm. Về nhóm chim ăn thịt ban ngày đã có những số liệu như sau: diều hâu châu Phi sống được 55 năm, kền kền Nam Mỹ 52 và 65 năm, đại bàng đầu trọc 38 năm. Trong bộ Ngỗng, ta biết được tuổi thọ của vịt Canada là 33 năm và thiên nga nhỏ 24 năm rưỡi. Trong nhóm sếu có sếu châu Úc sống được 47 năm, sếu xám 43 năm, sếu cổ trụi 42 năm. Bồ nông hồng sống được đến 51 năm và một số loài bồ câu sống đến 30 năm.

    Bằng phương pháp đeo vòng người ta cũng đã thu được một số kết quả khả quan như đã bắt được rẽ lớn 9 tuổi, nhạn sống 16 tuổi, nhạn biển 20 tuổi rưỡi, nhạn Bắc cực 14 tuổi, chim cánh cụt trán trắng 22 tuổi, diệc 20 tuổi, cò 11 tuổi, diều mướp 13 tuổi, quạ xám 14 tuổi, sáo 12 tuổi, yến đen 9 tuổi, sẻ nhà 11 tuổi rưỡi, đớp ruồi xám 12 tuổi rưỡi, và nhạn 9 tuổi. Nhóm vịt tuy bị săn bắt rất nhiều nhưng người ta cũng đã bắt được những con sống đến 18 – 20 năm.

    Trong thiên nhiên hầu hết các loài chim đều có tỷ lệ tử vong khá cao nhất là vào tuổi chưa trưởng thành, lúc chim chưa đầy một năm tuổi. Hiện tượng này đã ảnh hưởng rõ ràng đến tuổi thọ của chim và việc chim kéo dài được tuổi đời của chúng đến mức tối đa trong thiên nhiên là điều hiếm có. Ở các loài chim thuộc bộ Sẻ, tỷ lệ tử vong vượt quá 50%, như loài đớp ruồi lưng đen chỉ trong năm đầu đã chết 60%, đớp ruồi trán trắng đến 79%. Ở Cộng hòa dân chủ Đức người ta đã đeo vòng cho 77 chim nhạn non, trong năm thứ nhất đã có 51 con bị chết, năm thứ hai 17 con, năm thứ ba 6 con, năm thứ tư 2 con và chỉ còn 1 con sống sót đến năm thứ năm.

    Khí hậu khắc nghiệt, nhất là lạnh, cũng đã làm chết khá nhiều chim. Ví dụ, loài chim cánh cụt chúa ở vùng Nam cực là loài chim chịu lạnh giỏi nhất, thế mà có đến 77% chim non bị tử vong vì lạnh. Đối với loài mòng biển, chỉ trong năm đầu đã có đến 0,5% chim non chết, nhưng tỷ lệ tử vong của chim non trong năm đầu chỉ chiếm 17,2% toàn đàn. Vì vậy mà (nếu không kể chim non) thì phần lớn thành viên của đàn chim có tuổi đời từ 3 đến 5 năm.

    Đối với các loài chim ở nước, nhất là những loài sống tập đoàn thì tuổi thọ trung bình cao hơn ở chim sẻ và dĩ nhiên tỷ lệ tử vong của chim trưởng thành cũng thấp hơn.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Đời sống các loài chim
    • Tác giả: Võ Quý
    • Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội – 1978
    • Đôi dòng về tác giả: GS. Võ Quý: Ông dành cả cuộc đời say sưa nghiên cứu các loài chim và có nhiều đóng góp lớn cho khoa học môi trường Việt Nam và thế giới. Ông là người Việt Nam đầu tiên ở Châu Á giành được giải thưởng Blue Planet Prize về môi trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • H7N9 Ẩn Họa Trong Lồng Chim Cảnh
  • Fox News Đăng Bài Nhận Định “chiến Dịch Ngầm” Của Facebook Và Twitter Khiến Ông Trump Thất Cử
  • Lừa Đảo Qua Mạng Bao Nhiêu Tiền Bị Truy Cứu Trách Nhiệm Hình Sự?
  • Cần Chế Tài Riêng Để Quản Lý Facebook Tại Thị Trường Việt Nam
  • Chơi Chim: Thú Chơi Dành Cho Người ‘giàu’
  • Tuổi Thọ Của Các Loài Chim – Kipkis

    --- Bài mới hơn ---

  • Trang Điện Tử Đại Biểu Nhân Dân Tỉnh Hà Giang
  • Biện Pháp Phòng Bệnh Cho Chim Bồ Câu
  • Một Số Bệnh Ở Bồ Câu
  • Máng Uống Nước Cho Bồ Câu Tự Động
  • Miendonghoangnguyen.com : Miến Xào Chim Câu Ngon Như Nhà Hàng
  • 10. Tuổi thọ của các loài chim

    Việc tìm hiểu tuổi đời của các loài chim hoang dại, dù đã được chú ý nghiên cứu hơn nửa thế kỷ qua, nhưng cho đến nay người ta cũng chưa biết được gì nhiều lắm. Đây là một vấn đề khá phức tạp, vì chim sống tự do trong thiên nhiên, nay đây mai đó, biết chúng chết lúc nào mà theo dõi, ghi chép. Dùng phương pháp đeo vòng, người ta cũng đã biết được ít nhiều, nhưng lúc bắt lại được chim đeo vòng có phải đã là lúc chim già nhất chưa thì cũng còn phải bàn cãi. Để biết được tuổi đời của các loại chim hoang dại một cách chính xác, phương pháp chắc chắn nhất vẫn là theo dõi chúng ở các vườn nuôi. Nhưng tiếc thay số loài chim hoang dại đã được nuôi từ trước đến nay không phải là nhiều, vả lại do điều kiện sinh sống của chúng trong vườn nuôi, không hoàn toàn giống với điều kiện thiên nhiên, nên tuổi thọ của các cá thể sống trong vườn nuôi cũng có phần sai khác với tuổi thọ của đồng loại của chúng sống trong thiên nhiên. Trong thiên nhiên có lẽ chim gặp nhiều khó khăn hơn ở vườn nuôi về điều kiện khí hậu, về thức ăn, kẻ thù và bệnh tật v.v…, và cũng vì vậy mà tuổi thọ của chim nuôi có lẽ dài hơn so với chim sống trong thiên nhiên. Nói chung, chim có kích thước lớn thường sống lâu hơn chim có kích thước bé, nhưng cũng không phải chim lớn nhất đã có tuổi thọ cao nhất. Đà điểu châu Phi, loài chim hiện đại có cỡ lớn nhất nhưng chỉ sống được khoảng 30 – 40 năm, trong lúc đó dù dì, nhỏ hơn đà điểu nhiều mà thọ đến 68 tuổi.

    Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu mấy lâu nay thì tuổi thọ trung bình của các loài chim cùng một nhóm phân loại, không khác nhau nhiều lắm. Tuổi thọ trung bình của chim thuộc bộ Sẻ và bộ Vẹt là 20 năm, của Cú 15 năm, của chim cắt 21 – 24 năm, vịt, ngỗng 20 năm, rẽ giun 10 năm, mòng biển 17 năm, bồ câu 12 năm và gà 13 năm. Đây tuổi thọ của gà rừng, còn gà nhà thì có thể sống 24 – 25 năm và thậm chí có con sống được 30 năm.

    Tuổi thọ của một số loài cụ thể được xem như cao nhất đối với loài đó có thể kể như sau. Trong bộ Sẻ thì quạ sống được lâu nhất, có một con đã sống đến tuổi 60 và một con khác đến tuổi 69. Các loài chim sẻ bé có tuổi thọ thấp hơn: chim chích đầu đen 24 năm, hoét 20 năm, sơn ca 20 năm. Trong bộ Cú thì dù dì sống lâu nhất 34, 53 và 68 năm. Trong bộ Vẹt, có vẹt mào châu Úc sống đến 56 năm, và vẹt đỏ Bắc Mỹ 64 năm. Về nhóm chim ăn thịt ban ngày đã có những số liệu như sau: diều hâu châu Phi sống được 55 năm, kền kền Nam Mỹ 52 và 65 năm, đại bàng đầu trọc 38 năm. Trong bộ Ngỗng, ta biết được tuổi thọ của vịt Canada là 33 năm và thiên nga nhỏ 24 năm rưỡi. Trong nhóm sếu có sếu châu Úc sống được 47 năm, sếu xám 43 năm, sếu cổ trụi 42 năm. Bồ nông hồng sống được đến 51 năm và một số loài bồ câu sống đến 30 năm.

    Bằng phương pháp đeo vòng người ta cũng đã thu được một số kết quả khả quan như đã bắt được rẽ lớn 9 tuổi, nhạn sống 16 tuổi, nhạn biển 20 tuổi rưỡi, nhạn Bắc cực 14 tuổi, chim cánh cụt trán trắng 22 tuổi, diệc 20 tuổi, cò 11 tuổi, diều mướp 13 tuổi, quạ xám 14 tuổi, sáo 12 tuổi, yến đen 9 tuổi, sẻ nhà 11 tuổi rưỡi, đớp ruồi xám 12 tuổi rưỡi, và nhạn 9 tuổi. Nhóm vịt tuy bị săn bắt rất nhiều nhưng người ta cũng đã bắt được những con sống đến 18 – 20 năm.

    Trong thiên nhiên hầu hết các loài chim đều có tỷ lệ tử vong khá cao nhất là vào tuổi chưa trưởng thành, lúc chim chưa đầy một năm tuổi. Hiện tượng này đã ảnh hưởng rõ ràng đến tuổi thọ của chim và việc chim kéo dài được tuổi đời của chúng đến mức tối đa trong thiên nhiên là điều hiếm có. Ở các loài chim thuộc bộ Sẻ, tỷ lệ tử vong vượt quá 50%, như loài đớp ruồi lưng đen chỉ trong năm đầu đã chết 60%, đớp ruồi trán trắng đến 79%. Ở Cộng hòa dân chủ Đức người ta đã đeo vòng cho 77 chim nhạn non, trong năm thứ nhất đã có 51 con bị chết, năm thứ hai 17 con, năm thứ ba 6 con, năm thứ tư 2 con và chỉ còn 1 con sống sót đến năm thứ năm.

    Khí hậu khắc nghiệt, nhất là lạnh, cũng đã làm chết khá nhiều chim. Ví dụ, loài chim cánh cụt chúa ở vùng Nam cực là loài chim chịu lạnh giỏi nhất, thế mà có đến 77% chim non bị tử vong vì lạnh. Đối với loài mòng biển, chỉ trong năm đầu đã có đến 0,5% chim non chết, nhưng tỷ lệ tử vong của chim non trong năm đầu chỉ chiếm 17,2% toàn đàn. Vì vậy mà (nếu không kể chim non) thì phần lớn thành viên của đàn chim có tuổi đời từ 3 đến 5 năm.

    Đối với các loài chim ở nước, nhất là những loài sống tập đoàn thì tuổi thọ trung bình cao hơn ở chim sẻ và dĩ nhiên tỷ lệ tử vong của chim trưởng thành cũng thấp hơn.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Đời sống các loài chim
    • Tác giả: Võ Quý
    • Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội – 1978
    • Đôi dòng về tác giả: GS. Võ Quý: Ông dành cả cuộc đời say sưa nghiên cứu các loài chim và có nhiều đóng góp lớn cho khoa học môi trường Việt Nam và thế giới. Ông là người Việt Nam đầu tiên ở Châu Á giành được giải thưởng Blue Planet Prize về môi trường.

    “Like” us to know more!

    Knowledge is power

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Đuổi Chim Bồ Câu Hiệu Quả? Nên Đuổi Chim Bằng Cách Nào?
  • Kiểm Soát Côn Trùng Dịch Hại Rentokil
  • Sợ Chim Bồ Câu: Các Giải Pháp Chống Chim Bồ Câu 🌿 Tất Cả Về Làm Vườn Và Thiết Kế Sân Vườn
  • Bồ Câu Sợ Mùi Gì? Dùng Mùi Để Đuổi Bồ Câu Liệu Có Hiệu Quả
  • Ngủ Mơ Thấy Chim Bồ Câu Đánh Số Mấy? Điềm Tốt Hay Xấu?
  • 5 Loài Chim Có Giá Trị Cao Nhất Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Bài Hát Chị Em Cây Khế
  • Giành 3 Giải Thưởng Cao Trong Cuộc Thi Chim Màu
  • Thử Hình Dung Diện Mạo Tp Thủ Đức
  • Lảnh Lót Tiếng Chim Rừng Giữa Lòng Phố Thị Hà Tĩnh
  • Vé Máy Bay Đi Thái Lan Giá Tốt Nhất Trên Traveloka.com
  • Scarlet Macaw là một trong những loại vẹt có màu sắc sặc sỡ và thuộc dòng vẹt lớn. Với bộ lông rực rỡ của mình được rất nhiều người đam mê chim ưa chuộng và nó cũng là quốc chim của Honduras. Đây là một giống chim tuyệt vời với nhiều màu sắc bắt mắc và sặc sỡ, nó có đuôi rất dài và có nhiều màu sắc khác nhau. Một chú vẹt Scarlet Macaw trưởng thành có thể dài đến 85cm và nặng khoảng 2kg. Vẹt Scarlet Macaw rất thông minh, xinh đẹp và cũng rất ham học hỏi. Scarlet được huấn luyện đúng cách sẽ có thể làm được nhiều trò cũng như có tài ăn nói rất giỏi. Scarle t tràn đầy năng lượng, thích chơi đùa và tương tác với chủ nuôi, khá ồn ào và thích gây sự chú ý. Một chú chim đẹp và trưởng thành có mức giá giao động từ 150 -170 triệu đồng, quả là một chú chim đắt đỏ cho những ai muốn sở hữu chúng.

    Chim Palm Cockatoo Chim Hyacinth Macaw Chim Toucan Chào Mào Nữ Hoàng Vẹt Scarlet Macaw

    Chim chào mào nữ hoàng là một loại chim cảnh cực độc, quý hiếm. Toàn bộ phần cổ và đầu chim có màu lông trắng muốt, đôi mắt đỏ như lửa. Phong trào nuôi chim chào mào làm chim cảnh vì chim dễ nuôi, có giọng hót hay, nhiều con có giá trị kinh tế cao vì hình dáng đẹp, nhất là những con chào mào đột biến gen, tùy theo mức độ quý hiếm có giá từ vài chục triệu tới vài trăm triệu đồng.Kích thước của các loài chào mào khá đa dạng, có thể từ 13cm-15cm đối với một chú chim trưởng thành. Trong họ chào mào, các cá thể chim cái thường có kích thước nhỏ hơn một chút so với con đực.

    Chim Toucan là loại chim cực kì quý hiếm, bạn không dễ dàng tìm thấy chúng đâu.Nếu bạn muốn tìm đến những chú chim đẹp Toucan này thì bạn có thể đến Nam Mỹ, Trung Mỹ, Caribbean và Mexico ở phía Nam. Chim Toucan nổi bật với chiếc mỏ to dài dài, trông rất khỏe khoắn và sắt nhọn với màu sắc nổi bật. Giống như những con chim Toucans khác, chim Toucan hàm nâu hạt dẻ có một vệt sáng trên đầu và có một cái mỏ trông lớn hơn. Những con trống có chiều dài 56 cm, trong khi những con mái nhỏ hơn thường dài 52 cm. Trọng lượng trung bình của chúng khoảng 599-746 gram, nó có đôi chân vô cùng khỏe khoắn và di chuyển một cách linh hoạt trong rừng rậm. Chim Toucan có giá trị cao bởi nó có chiếc mỏ rất đẹp và to lớn, giá trị của loài chim này từ 5000$ cho đến 10.000$, chiếc mỏ của chim Toucan càng lớn thì giá trị càng cao.

    Chim Hyacinth Macaw thuộc loại vẹt đuôi dài và đây chính là loài vẹt lớn nhất trên thế giới được tìm thấy ở thời điểm hiện tại. Loài chim này có nguồn gốc từ trung tâm Nam Mỹ và phía Đông Mỹ. Hiện nay số lượng chim Hyacinth Macaw trong tự nhiên đã giảm mạnh do nạn săn bắt và thói quen nuôi chim cảnh của con người. Đặc điểm nổi bật của loài chim này là có chiếc mỏ rất cứng và khỏe, có thể xuyên thủng vỏ của trái dừa, chim Hyacinth Macaw có giá khoảng 14.000$, một cái giá rất đắt đỏ cho những ai muốn sở hữu loại vẹt lớn nhất thế giới này. Chim Hyacinth Macaw có chiều dài khoảng 100cm, nặng từ 1,5-2kg, sải cánh dài từ 120-140cm, nó có bộ lông hoàn toàn màu xanh và rất khó để phân biệt chim trống và chim mái.

    Mở đầu cho danh sách là loại chim Palm Cockatoo, chúng có ngoại hình rất ngầu, chú chim này có lồng màu khói xám trông thật khỏe và rắn chắc, điểm nổi bật của loài chim này chính là chiếc mào đỏ vô cùng nổi bật. Chú chim Palm Cockatoo này có chiều dài toàn thân khoảng 55-60 cm là một trong những dòng vẹt mào lớn nhất tuy nhiên trong lượng của chúng lại khá nhẹ so với kích thước, cân nặng trung bình chỉ từ 910 – 1200gram. Chim Palm Cockatoo thường xuất hiện đơn lẻ, theo cặp hoặc theo một nhóm nhỏ khoảng 5-7 cá thể Chim. Chim Palm Cockatoo có mức giá thật sự rất khủng, giá của nó là khoảng 16.000$. Thật sự quá kinh khủng cho một chú chim cảnh, đúng là chỉ có những đại gia thực thụ mới có thể sở hữu loài chim này.

    Đăng ngày 27/05/2020, 311 lượt xem

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đến Đà Lạt Ăn Gì? Top Món Ăn Ngon Tại Đà Lạt Nhất Định Phải Thử Qua
  • Tìm Niềm Vui Từ Tiếng Chim Chào Mào
  • Ngẩn Ngơ Cà Phê… Chim Đà Nẵng
  • Cám Chào Mào Tuấn Mi, Cám Chòe Đấu Tuấn Mi, Cám Họa Mi Tuấn Mi
  • Nóng: Hai Vụ Sạt Lở Vùi Lấp 53 Người Ở Quảng Nam, Đã Thông Đường Vào Nam Trà My
  • Top 5 Loài Chim Có Giá Trị Cao Nhất Thế Giới 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Vật Nuôi Có Giá Trị Kinh Tế Cao Nhất Hiện Nay
  • Dương Chòe: Bán Chim Săn Mồi Ưng Ấn, Shikra
  • Tổng Hợp Những Loài Chim Cảnh Dễ Nuôi Nhất Tại Việt Nam
  • Lưu Ý Khi Mua Bán Chim Cảnh Qua Mạng Mà Bạn Không Thể Bỏ Qua: Không Nên Ham Rẻ
  • Kinh Doanh Siêu Đỉnh, Bán Nhà Yên Phúc Gần Chợ Yên Phúc 6 Tầng 65M2, Ô Tô Tránh, Vỉa Hè, Nhỉnh 9 Tỷ
  • Nội Dung Chính Của Bài Viết

    Mở đầu cho danh sách là loại chim Palm Cockatoo, chúng có ngoại hình rất ngầu, chú chim này có lồng màu khói xám trông thật khỏe và rắn chắc, điểm nổi bật của loài chim này chính là chiếc mào đỏ vô cùng nổi bật. Chú chim Palm Cockatoo này có chiều dài toàn thân khoảng 55-60 cm là một trong những dòng vẹt mào lớn nhất tuy nhiên trong lượng của chúng lại khá nhẹ so với kích thước, cân nặng trung bình chỉ từ 910 – 1200gram. Chim Palm Cockatoo thường xuất hiện đơn lẻ, theo cặp hoặc theo một nhóm nhỏ khoảng 5-7 cá thể Chim. Chim Palm Cockatoo có mức giá thật sự rất khủng, giá của nó là khoảng 16.000$. Thật sự quá kinh khủng cho một chú chim cảnh, đúng là chỉ có những đại gia thực thụ mới có thể sở hữu loài chim này.

    Chim Hyacinth Macaw thuộc loại vẹt đuôi dài và đây chính là loài vẹt lớn nhất trên thế giới được tìm thấy ở thời điểm hiện tại. Loài chim này có nguồn gốc từ trung tâm Nam Mỹ và phía Đông Mỹ. Hiện nay số lượng chim Hyacinth Macaw trong tự nhiên đã giảm mạnh do nạn săn bắt và thói quen nuôi chim cảnh của con người. Đặc điểm nổi bật của loài chim này là có chiếc mỏ rất cứng và khỏe, có thể xuyên thủng vỏ của trái dừa, chim Hyacinth Macaw có giá khoảng 14.000$, một cái giá rất đắt đỏ cho những ai muốn sở hữu loại vẹt lớn nhất thế giới này. Chim Hyacinth Macaw có chiều dài khoảng 100cm, nặng từ 1,5-2kg, sải cánh dài từ 120-140cm, nó có bộ lông hoàn toàn màu xanh và rất khó để phân biệt chim trống và chim mái.

    Scarlet Macaw là một trong những loại vẹt có màu sắc sặc sỡ và thuộc dòng vẹt lớn. Với bộ lông rực rỡ của mình vẹt Scarlet Macaw được rất nhiều người đam mê chim ưa chuộng và nó cũng là quốc chim của Honduras. Đây là một giống chim tuyệt vời với nhiều màu sắc bắt mắc và sặc sỡ, nó có đuôi rất dài và có nhiều màu sắc khác nhau. Một chú vẹt Scarlet Macaw trưởng thành có thể dài đến 85cm và nặng khoảng 2kg. Vẹt Scarlet Macaw rất thông minh, xinh đẹp và cũng rất ham học hỏi. Scarlet được huấn luyện đúng cách sẽ có thể làm được nhiều trò cũng như có tài ăn nói rất giỏi. Scarle t tràn đầy năng lượng, thích chơi đùa và tương tác với chủ nuôi, khá ồn ào và thích gây sự chú ý. Một chú chim đẹp và trưởng thành có mức giá giao động từ 150 -170 triệu đồng, quả là một chú chim đắt đỏ cho những ai muốn sở hữu chúng.

    Chim Toucan là loại chim cực kì quý hiếm, bạn không dễ dàng tìm thấy chúng đâu.Nếu bạn muốn tìm đến những chú chim đẹp Toucan này thì bạn có thể đến Nam Mỹ, Trung Mỹ, Caribbean và Mexico ở phía Nam. Chim Toucan nổi bật với chiếc mỏ to dài dài, trông rất khỏe khoắn và sắt nhọn với màu sắc nổi bật. Giống như những con chim Toucans khác, chim Toucan hàm nâu hạt dẻ có một vệt sáng trên đầu và có một cái mỏ trông lớn hơn. Những con trống có chiều dài 56 cm, trong khi những con mái nhỏ hơn thường dài 52 cm. Trọng lượng trung bình của chúng khoảng 599-746 gram, nó có đôi chân vô cùng khỏe khoắn và di chuyển một cách linh hoạt trong rừng rậm. Chim Toucan có giá trị cao bởi nó có chiếc mỏ rất đẹp và to lớn, giá trị của loài chim này từ 5000$ cho đến 10.000$, chiếc mỏ của chim Toucan càng lớn thì giá trị càng cao.

    Chim chào mào nữ hoàng là một loại chim cảnh cực độc, quý hiếm. Toàn bộ phần cổ và đầu chim có màu lông trắng muốt, đôi mắt đỏ như lửa. Phong trào nuôi chim chào mào làm chim cảnh vì chim dễ nuôi, có giọng hót hay, nhiều con có giá trị kinh tế cao vì hình dáng đẹp, nhất là những con chào mào đột biến gen, tùy theo mức độ quý hiếm có giá từ vài chục triệu tới vài trăm triệu đồng.Kích thước của các loài chào mào khá đa dạng, có thể từ 13cm-15cm đối với một chú chim trưởng thành. Trong họ chào mào, các cá thể chim cái thường có kích thước nhỏ hơn một chút so với con đực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Loại Cây Cảnh Đẹp Để Bàn Hợp Phong Thủy
  • Hiệu Quả Triển Khai Mô Hình Trồng Tái Canh Cà Phê Vối
  • Cây Cao Su Đã Được Tái Canh Trên Vùng Đất Ia Chim
  • Mua Bán Nhà Đất Tại Bmt Luôn Luôn Là Thương Hiệu Tốt Trên Google
  • Điểm Danh 3 Loài Chim Cảnh Hót Hay Nhất
  • Những Loài Chim Đẹp Nhất Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 20 Loài Chim Đẹp Nhất Thế Giới
  • Top Các Loài Chim Cảnh Phổ Biến Nhất Việt Nam
  • Top 12 Loài Chim Cảnh Phổ Biến Nhất Việt Nam
  • Top 25 Loài Chim Quý Hiếm Và Tuyệt Đẹp
  • Chợ Chim Cảnh Lớn Nhất Hải Phòng
  • Chim rẻ quạt (The Hoopoe)

    Chim rẻ quạt được ngưỡng mộ vì có chiếc đuôi rộng như cái quạt. Loài chim này được tìm thấy ở Afro-Eurasia. Mỗi khi tắm nắng, chúng sẽ dang rộng cánh và đuôi trên mặt đất và nghiêng đầu lên trên.

    Gà lôi vàng (The Golden Pheasant)

    Loài chim rực rỡ này có nguồn gốc ở miền Tây Ấn Độ. Lớp lông vũ màu cam quanh cổ của nó để phục vụ cho một mục đích duy nhất là kiếm bạn đời.

    Hải âu rụt cổ Đại Tây Dương (The Atlantic Puffin)

    Bởi vì có ngoại hình rất buồn cười nên Hải âu rụt cổ đôi khi được gọi là “gà trống biển” hoặc “chú hề của biển cả”. Hải âu rụt cổ Đại Tây Dương kiếm mồi bằng cách lặn xuống nước bắt cá, đôi khi chúng cũng ăn mực hoặc động vật giáp xác.

    Chim đuôi seo (The Quetzal)

    Được tìm thấy trong môi trưởng tự nhiên ở Trung Mỹ. Không chỉ gây ấn tượng với bộ lông vũ mà đây còn là loài chim ăn tạp. Chúng ăn tất cả mọi thứ từ thằn lằn, côn trùng, sinh vật nhỏ, và thậm chí cả trái cây.

    Vẹt cầu vồng (Rainbow Lorikeet)

    Chú vẹt đầy màu sắc này trông giống như một nghệ sĩ hoang dã. Vẹt cầu vồng được nhìn thấy thường xuyên ở dọc bờ biển phía đông Australia. Chúng thích dạo chơi trong các khu rừng nhiệt đới, rừng hoang dã, cây bụi ven biển. Chúng cũng thường xuyên có những biểu hiện giống như say rượu khi ăn mật hoa lên men.

    Chim bói cá (The Kingfishers)

    Đúng như tên của nó, chim bói cá được coi là một tay ngư dân lành nghề. Nhờ vào chiếc mỏ lớn và mạnh, chim bói cá có thể ăn nhiều thức ăn như cá, ếch côn trùng, cua, chuột, thằn lằn và thậm chí cả các loài chim khác. Khi săn mồi, chúng thường tìm chỗ đậu và chờ đợi để phát hiện con mồi, một khi con mồi bị bắt chúng sẽ mang đi và đập mạnh cho tới chết.

    Vẹt Macaw (The Lear’s Macaw)

    Những con vẹt màu xanh xinh đẹp này là một trong những bộ phận quý hiếm của vẹt Trung và Nam Mỹ được gọi là vẹt đuôi dài. Những con vẹt này có màu rất xanh nhưng nếu nhìn kỹ chúng sẽ có một lớp màu xanh là cây.

    Công (Peacocks)

    Công chắc chắn là một chiếc váy rực rỡ nhất mà mẹ thiên nhiên ban tặng. Có họ hàng với gà lôi nhưng lại đặc biệt thu hút bởi lông đuôi vô cùng rực rỡ và gây ngạc nhiên với những chiếc chấm đen tựa như đôi mắt. Bộ lông này được sử dụng để mở đầu cho màn tán tỉnh trong mùa giao phối. Con cái khi chọn bạn tình dựa vào độ dài của lông đuôi.

    Chim tu căn mỏ úp (Keel-Billed Toucans)

    Có nguồn gốc từ Belize, chúng được biết đến với chiếc mỏ có màu sắc rực rỡ và một mảng màu tươi sáng lớn ngay dưới cổ. Chim tu căn không chỉ được biết đến là loài chim sặc sỡ nhất mà còn là loài chim không biết sợ. Chúng bình tĩnh chờ đợi ngay cả khi có những cơn bão nguy hiểm nhất ập đến.

    Chào mào đỏ phương Bắc (The Northern Cardinal)

    Bạn sẽ không thể nào bỏ qua một đốm đỏ rực rỡ như chào mào đỏ phương Bắc trong chính môi trường của chúng. Cái mào của nó sẽ nổi lên nếu thấy bất kỳ ai. Màu đỏ của chúng được giữ trong suốt cả mùa đông. Và vào mùa hè chúng được ngưỡng mộ bởi tiếng hót lúc bình mình.

    Hồng hạc (Flamingos)

    Sẽ không có danh sách các loài chim đẹp nhất mà không có hồng hạc. Loài chim có màu hồng kỳ lạ này được tìm thấy ở phía Nam và Tây bán cầu. Chúng rất giỏi trong khả năng cân bằng. Chúng có thể đứng trên một chân trong hằng giờ liền tại một điểm.

    Kền kền California (The California Condor)

    Là loài chim lớn nhất trên đất liền ở Bắc Mỹ, chúng có một cục thịt màu pha lê tím trên da. Cục thịt này sẽ lớn lên nếu chúng gặp nguy hiểm.

    Bohemian Waxwing

    Loài chim này không có màu sắc sặc sỡ như những loài chim khác trong danh sách này. Nhưng vẻ sang trọng và quyến rũ cũng là điều đáng nhắc đến. Lông của nó bóng mượt và màu nâu mịn. Cái mào của nó rất đẹp nhưng lại cho chúng một ngoại hình nhìn rất vui mắt.

    Vàng anh phương Bắc (Northern Oriole)

    Những chú chim nhỏ nhắn này có sự kết hợp hài hòa màu vàng và màu đen trên bộ lông của chúng. Loài chim này thường đơn độc cho đến mùa giao phối. Nhưng con đực có giọng hót rất tuyệt vời.

    Chim thiên đường xanh (Blue Bird-of-Paradise)

    Loài chim này được tìm thấy ở New Guinea. Không chỉ xinh đẹp mà những con chim đực thường có màn tán tỉnh rất vui nhộn. Chúng thường treo ngược lên cành cây bằng chân để xõa bộ lông tuyệt đẹp xuống và cất tiếng hót trầm khàn đều mời gọi còn cái đến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nhìn Của Phật Giáo Đối Với Thú Nuôi Chim Cảnh
  • Giới Thiệu Về Cánh Chim Việt
  • 39 Điểm Hot Nhất Du Lịch Đà Lạt
  • Bao Quang Tri : Đam Mê Chim Cảnh
  • Sự Sụp Đổ Của Siêu Cường
  • Top 20 Loài Chim Đẹp Nhất Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Top Các Loài Chim Cảnh Phổ Biến Nhất Việt Nam
  • Top 12 Loài Chim Cảnh Phổ Biến Nhất Việt Nam
  • Top 25 Loài Chim Quý Hiếm Và Tuyệt Đẹp
  • Chợ Chim Cảnh Lớn Nhất Hải Phòng
  • Giao Lưu Câu Lạc Bộ Chim Họa Mi Chọi Các Tỉnh Phía Bắc Lần Thứ 4
  • Có hơn 10.000 loài còn tồn tại giúp chúng trở thành lớp đa dạng nhất trong các loài động vật bốn chi, cư trú ở các hệ sinh thái khắp toàn cầu, từ vùng Bắc Cực cho tới châu Nam Cực. Cùng điểm mặt 20 loài chim đẹp nhất thế giới.

    22. Swan – Chim Thiên Nga

    Thiên nga là một nhóm chim cỡ lớn thuộc họ Vịt, cùng với ngỗng và vịt. Thiên nga và ngỗng có quan hệ gần gũi, cùng được xếp vào phân họ Ngỗng trong đó thiên nga làm thành tông Cygnini. Đôi khi, chúng được phân loại thành một phân họ riêng có tên là Cygninae.

    Hầu hết thiên nga có chân màu ghi đen đậm, ngoại trừ hai loài ở Nam Mỹ, có chân màu hồng. Màu mỏ của chúng rất đa dạng: 4 loài sống ở vùng cận Bắc cực có mỏ đen với những mảng vàng bất quy tắc, các loài khác có “mô hình” phân màu đỏ và đen xác định. Loài thiên nga trắng và thiên nga cổ đen có một cái bướu ở phần gốc của mỏ trên.

    Các loài thiên nga ở Bắc bán cầu có bộ lông trắng tuyền nhưng các loài thiên nga ở Nam bán cầu có màu lông trắng-và-đen. Loài thiên nga đen của Úc (Cygnus atratus) có màu đen hoàn toàn ngoại trừ vài lông trắng trên cánh của chúng còn loài thiên nga cổ đen Nam Mỹ – như tên gọi của chúng – có cổ màu đen. Chim thiên nga có thể bay với vận tốc 60 dặm 1 giờ.

    Thiên nga thường kết đôi suốt đời, tuy nhiên việc “ly dị” thỉnh thoảng vẫn xảy ra, đặc biệt sau khi thất bại trong việc làm tổ. Số trứng trung bình trong mỗi ổ là 3-8. Phải mất 35-42 ngày để những quả trứng thiên nga nở thành con. Một con thiên nga đực được gọi là “cob” (thiên nga trống) còn một con thiên nga cái thì được gọi là “pen” (thiên nga cái). Một con chim thiên nga có 25.000 cái lông trên người và thiên nga đực là loài chim duy nhất có dương vật.

    Câu chuyện nổi tiếng nhất về thiên nga có lẽ là truyện cổ tích Vịt con xấu xí. Câu chuyện xoay quanh một chú vịt con bị đối xử bất công cho đến khi mọi sự rõ ràng rằng chú là một con thiên nga và được đón nhận trong cộng đồng. Chú bị ngược đãi vì đối với nhiều người, những con vịt con thật sự đáng yêu hơn thiên nga con, mặc dù thiên nga con sẽ trở thành những thiên nga trưởng thành – những sinh vật thật sự quyến rũ. Thiên nga là biểu tượng của tình yêu và lòng chung thuỷ vì tập tính ghép đôi suốt đời.

    21. Mandarin Duck – Chim Uyên Ương

    Uyên ương là một loài vịt đậu cây kích thước trung bình, có quan hệ họ hàng gần gũi với vịt Carolina ở Bắc Mỹ. Kích thước chiều dài của nó là 41-49 cm và sải cánh dài 65-75 cm.

    Con trống (còn gọi là uyên) có bộ lông sặc sỡ khó nhầm lẫn. Nó có mỏ đỏ, vệt lông hình lưỡi liềm lớn màu trắng phía trên mắt và mặt đỏ cùng “ria”. Ngực màu tía với hai sọc trắng theo chiều dọc, hai hông hung hung đỏ, với hai cụm lông giống như hai lá buồm màu da cam ở lưng.

    Con mái (còn gọi là ương) trông tương tự như con mái của vịt Carolina, với vành khuyên màu trắng quanh mắt và sọc chạy ngược về phía sau từ mắt, nhưng nhạt dần, nó có sọc nhỏ màu trắng bên hông và đầu mỏ nhạt màu.

    Loài này đã từng phổ biến ở miền đông châu Á, nhưng sự xuất khẩu ở quy mô lớn và sự phá hủy môi trường sinh sống miền rừng của nó đã làm suy giảm quần thể uyên ương tại miền đông Nga và tại Trung Quốc xuống dưới 1.000 đôi, mặc dù tại Nhật Bản có thể còn khoảng 5.000 đôi.

    Trong tự nhiên, uyên ương sinh sản trong các khu vực nhiều cây cối gần các ao, hồ nước nông, đầm lầy. Chúng làm tổ thành các hốc trên cây, gần với mặt nước. Con trống không chăm lo gì đến việc ấp và bảo vệ trứng, nó để mặc cho con mái tự làm lấy việc này. Tuy nhiên, trái với các loài vịt khác, uyên ương trống không bỏ rơi gia đình, nó chỉ tạm thời rời bỏ con mái trong thời gian ấp trứng và sẽ quay trở lại khi trứng đã nở. Ngay sau khi uyên ương con nở ra, mẹ chúng bay xuống đất và kêu để giục các con rời tổ. Sau đó các uyên ương con sẽ theo mẹ đến một vùng nước gần đó, nơi chúng sẽ thường xuyên gặp mặt cha mình – lúc này uyên ương cha đã quay trở về và bảo vệ con cái cùng mẹ chúng. Nếu như uyên ương cha không có mặt thì nhiều khả năng nó đã chết trong quá trình rời nhà trước đó

    Uyên ương kiếm ăn bằng cách bơi lội hay đi lại trên mặt đất. Chúng chủ yếu ăn các loại rau cỏ và hạt, đặc biệt là quả sồi. Chúng đi kiếm ăn lúc chạng vạng hay rạng đông, còn ban ngày thì đậu trên cây hay ở dưới mặt đất để nghỉ ngơi.

    20. Bohemian waxwing

    Bohemian waxwing là một loài chim trong họ Bombycillidae. Loài này sinh sống và sinh sản ở các khu rừng phía bắc lục địa Á-Âu và Bắc Mỹ.

    Chúng có bộ lông chủ yếu màu xám da trâu, lông mặt màu đen và màu nhọn. Cánh có các dải lông trắng và vàng sáng và mũi cánh có màu đỏ nhạt. Ba phân loài chỉ có bộ lông khác nhau vài điểm nhỏ.

    Chim trống trông giống chim mái. Chúng có môi trường sinh sống và sinh sản ở rừng lá kim, thường gần nước. Cặp chim bố mẹ xây tổ hình chiếc tách trên cây hoặc bụi cây, thường gần thân cây. Mỗi tổ có 3-7 quả trứng và ấp trong 13-14 ngày thì nở.

    Chim non mới nở yếu và chưa mọc lông và được cả chim bố và chim mẹ nuôi, chủ yếu cho ăn mồi côn trùng, nhưng sau đó chủ yếu là trái cây. Chúng có thể bay 14-16 ngày sau khi nở.

    19. Toco Toucan

    Toco Toucan – loài chim phổ biến nhất trong các loài thuộc họ Toucan, tuy có nguồn gốc từ khu rừng nhiệt đới ở Nam Mĩ nhưng hiện nay chúng phân bố ở rất nhiều nơi khác trên thế giới. Điều khiến Toco Toucan trở thành một trong những loài chim được biết đến nhiều nhất chính là nhờ chiếc mỏ lớn, đầy màu sắc của chúng.

    Mặc dù cả hai giống đực và cái đều sở hữu chiếc mỏ dài như nhau nhưng đây cũng chính là đặc điểm giúp Toucan thu hút giống khác giới. Trong mùa giao phối, giống đực và cái sẽ sử dụng mỏ của chúng để mang những loài thực vật ngon và tặng cho bạn đời của mình.

    Trong khi kích cỡ cơ thể của loài này có thể làm cho kẻ săn mồi phải dè chừng thì mỏ của chúng gần như không có tác dụng gì trong việc phòng thủ.

    Mỏ của chim Toucan chỉ đơn giản là một công cụ hữu ích giúp chúng kiếm ăn. Loài chim này dùng mỏ của mình để với lấy những loại quả trên cành cây nhỏ, dễ gãy mà chúng không thể đậu vào được. Ngoài hoa quả, thức ăn của chim Toucan còn có côn trùng, những loài chim nhỏ, trứng và bò sát.

    Toco Toucan sống theo bầy đàn khoảng 6 cá thể. Với bộ lông có màu sắc tươi sáng, loài chim này có thể ngụy trang khá tốt dưới những tán cây trong rừng. Khi muốn báo hiệu cho các cá thể cùng loài, chim Toucan sẽ có một tiếng kêu riêng để phân biệt.

    Chim Toucan làm tổ ở các lỗ trên cây. Chúng thường đẻ từ 2 tới 4 trứng mỗi năm, cả con đực và con cái đều chăm sóc cho con của mình. Ban đầu, chim Toucan con không có chiếc mỏ to như chim bố và chim mẹ, sau vài tháng, mỏ của những con non sẽ phát triển tỉ lệ thuận theo cơ thể của chúng .

    Toco Toucan cũng là một loài vật nuôi phổ biến, chúng bị săn bắt rất nhiều để phục vụ cho nhu cầu vật nuôi của con người. Mỗi khi nghĩ đến loài chim này, người địa phương thường liên tưởng đến đôi mắt đáng sợ của chúng, theo phong tục của người dân nơi đây, chim Toco Toucan là mối liên hệ giữa cõi dương và cõi âm.

    Một số thông tin thêm về Toco Toucan có thể bạn chưa biết:

    − Chim Toucan dùng những chiếc răng cưa trên mỏ của mình để rỉa thức ăn

    − Mỏ của chim Toco Toucan chiếm 1/3 tỉ lệ cơ thể của chúng

    − Tuy có trọng lượng khá nhẹ, nhưng mỏ của loài chim này rất khỏe

    − Chúng ta có thể tìm thấy chim Toucan trong những cánh rừng thuộc châu Mĩ

    − Bên ngoài mỏ của loài chim này được bao bọc bởi chất sừng, còn bên trong mỏ lại được cấu tạo bởi các sợi xương.

    18. Nicobar Pigeon – Chim bồ câu Nicobar

    Được tìm thấy trên các đảo nhỏ và ở các vùng ven biển từ quần đảo Andaman và Nicobar , Ấn Độ , từ phía đông quần đảo Malay đến Solomons và Palau

    Nicobar là một loài bồ câu lớn, dài 40 cm (16 in). Đầu và cổ có màu xám, thân màu xanh lá cây và màu đồng. Đuôi rất ngắn và có màu trắng. Phần còn lại của bộ lông của nó là màu xanh kim loại. chân và bàn chân chắc khỏe có màu đỏ xỉn

    Chim bồ câu Nicobar đi lang thang theo đàn từ đảo này sang đảo khác, thường ngủ trên các đảo nhỏ ngoài khơi, nơi không có động vật săn mồi nào và dành cả ngày ở những khu vực có nhiều thức ăn, và không hề e ngại những khu vực có con người sinh sống. Thức ăn của nó bao gồm hạt , quả và chồi non, chúng thường bị thu hút bởi các khu vực có sẵn ngũ cốc do con người trồng trọt.

    Loài này làm tổ trong rừng rậm trên đảo nhỏ ngoài khơi, thường ở các hòn đảo lớn. Nó xây dựng một chiếc tổ treo lỏng lẻo trên cây và thường đẻ một quả trứng màu trắng mờ hình elip

    17. Victoria Crowned Pigeon

    Sở hữu vẻ bề ngoài mỹ miều với bộ lông vũ màu xanh pha ánh tím tuyệt đẹp, đôi mắt sắc sảo đỏ rực nổi bật có viền và đặc biệt là chỏm lông dựng như mào trên đỉnh đầu. Chỏm lông này giống như một thứ trang sức lộng lẫy với những điểm nhấn trắng hình cánh quạt. Cũng chính chỏm lông trang sức khiến loài chim này hệt như một nữ hoàng đang đội vương miện.

    Được biết, nhờ vẻ đẹp nổi trội và duyên dáng này, loài chim bồ câu được đặt tên theo tên của nữ hoàng Anh Victoria. Đặc biệt hơn, chim trống và chim mái thuộc loài bồ câu vương miện Victoria có ngoại hình giống hệt nhau.

    Nếu chỉ nhìn bằng mắt thường, con người, kể cả các chuyên gia cũng không thể phân biệt được đâu là con trống, đâu là con mái. Để nhận dạng được giới tính của loài bồ câu vương miện Victoria này, các nhà khoa học buộc phải xét nghiệp ADN hoặc phẫu thuật.

    Với chiều dài cơ thể trung bình là 73-75cm, cá biệt có con dài đến 80cm và năng 3,5kg, bồ câu vương miện Victoria được xem là loài bồ câu lớn nhất trên thế giới. Chúng sinh sống chủ yếu ở những vùng đầm lầy, những khu vực có phù sa bồi đắp và những cánh rừng dừa nước thuộc miền bắc New Guinea và các hòn đảo xung quanh đó. Là loài chim sinh sống theo bầy đàn hoặc đi tìm thức ăn với nhau theo đôi theo cặp, chim bồ câu vương miện Victoria có dáng điệu vô cùng chậm rãi và từ tốn.

    Thức ăn của chúng chủ yếu là trái cây chín rụng, thỉnh thoảng có cả các loại hạt và động vật không xương sống. Khi thấy nguy hiểm, loài chim này thường bay thẳng lên những tán cây rậm rạp và ở trên đó rất lâu, giao tiếp với nhau bằng tiếng gọi và những cái búng đuôi. Tiếng đập cánh của chúng rất to, và tiếng gọi nhau của chúng cũng vọng rất xa, nghe giống như tiếng hú của con người.

    Đến mùa sinh sản, con trống thường quyến rũ con mái bằng một điệu nhảy tiều phu: chúng vươn đầu lên cao rồi bổ đầu xuống theo nhịp điệu đều đều, đuôi vểnh lên theo từng nhịp bổ, động tác giống như đang bổ củi. Con mái thường chỉ đẻ một quả trứng vào bên trong tổ, sau đó cả hai con thay phiên nhau ấp trứng trong vòng 30 ngày. Sau khi nở, chú chim con sẽ được bố mẹ chăm sóc trong vòng 13 tuần, sau đó nó sẽ rời tổ và sống tự lập một mình.

    Hiện tại, loài chim xinh đẹp này được liệt vào danh sách những loài động vật nguy cấp, đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Nguyên nhân xuất phát từ việc chúng bị mất môi trường sống do phá rừng, và vì bị săn bắt bừa bãi để lấy lông và thịt. Thêm vào đó, việc mỗi lần chỉ đẻ một quả trứng càng khiến cho số lượng của loài chim này khó được duy trì.

    16. Gouldian Finch – Chim Bảy Màu

    Đây là loài chim cảnh tuyệt vời ho Finch, xuất xứ từ Châu Úc. Chúng sống thành từng bầy nhỏ ở những miền đồi hay thảo nguyên khô nóng, nơi nhiệt độ có thể lên tới trên 40 độ C. Chính vì sống trong vùng khí hậu như vậy nên thời gian ấp trứng và nuôi con của chúng ngắn hơn nhiều loài chim cùng họ, và chúng cũng ít chịu chăm chỉ ấp, ủ ấm chim con như các loài finch khác.

    Nhập cư vào châu Âu, châu Mĩ, khó khăn lớn nhất với người nuôi là tạo điều kiện sống cho chúng phat triển, sinh đẻ trong chuồng được. Vì sau khi làm quen với khí hậu , thổ nhưỡng mới, thường chúng chỉ chịu bắt cặp đẻ chứ không chịu ấp trứng và nuôi con.

    Trong thiên nhiên, Gouldian Finch gần như không đan bện tổ, mà thường chọn những hốc gây, bọng cây có sẵn để xây mái ấm. Chim trống chịu trách nhiệm tha rơm, cỏ khô… về lót ổ, các mối bện thường cẩu thả và đơn giản. Chim mái chỉ đứng ngoài xem và chỉ đạo; Tổ xong xuôi, cô nàng chui vào đẻ, mỗi ổ trung bình có 3-7 trứng, như nhiều loài finch khác, cả bố mẹ Gould đều tham ấp trứng và nuôi con.

    Thông thường chúng ăn các loại hạt khô, sau khi chim non ra đời, thường cũng là lúc có những cơn mưa đầu tiên, chúng ăn những hạt cỏ nẩy mầm sau mưa, và sâu bọ nhỏ để thức ăn mớm cho con được mềm mại và bổ dưỡng hơn.

    Người đầu tiên phát hiện với thế giới loài chim này là nhà tự nhiên học Gould. Ngạc nhiên trước vẻ đẹp lộng lẫy, sự phân bố màu sắc rực rỡ của loài chim tuyệt vời này, ông đã đặt tên cho chúng là Lady Gould, để tôn vinh và tỏ lòng biết ơn đến người vợ của mình, người đã cùng ông bôn ba muôn dặm để nghiên cứu về các loại chim Úc châu.

    15. Red Fan Parrot Vẹt quạt Đỏ

    Red Fan Parrot ( Deroptyus accipitrinus ), còn được gọi là vẹt diều hâu đầu đỏ , là loài vẹt đến từ rừng mưa Amazon, là thành viên duy nhất của chi Deroptyus .

    Chúng sống ở Ecuador , Suriname , Bolivia , Brazil , Colombia , các khu vực phía đông bắc Peru , Venezuela , Guiana thuộc Pháp và Guyana .

    Red Fan Parrot sở hữu lông cổ dài có thể tạo hình thành một chiếc quạt tinh xảo, giúp làm tăng đáng kể kích thước của nó, và thường được sử dụng khi bị đe dọa. Chúng thường sống trong rừng không bị con người làm phiền, kiếm ăn trong tán trên của rừng. Mặt có màu nâu sẫm với những vệt trắng, mảng đen tròn, mắt nâu, cánh màu xanh lá cây, sườn đuôi và ngực có màu đỏ xanh xen kẽ.

    Red Fan Parrot làm tổ trong các lỗ trên cây và gốc cây. Đẻ từ hai đến ba quả, thường nở sau khoảng 26 ngày. Chim non bắt đầu cuộc sống tự lập trong tự nhiên khi được khoảng 10 tuần tuổi. Chỉ có hai tổ được kiểm tra ngoài tự nhiên và cả hai đều chỉ có một chim non.

    Red Fan Parrot, mặc dù không đặc biệt phổ biến ở aviculture chúng đôi khi được nuôi nhốt như chim cảnh. Trong khi những con chim chưa trưởng thành có xu hướng ngoan ngoãn, thì con trưởng thành lại thường đặc biệt xấu tính, bướng bỉnh và mạnh mẽ, thường thể hiện sự hung dữ cực độ đối với con người và những con chim khác sống cùng chúng (bao gồm cả những loài khác của chúng và / hoặc bạn tình của chúng) , đặc biệt trong điều kiện nuôi như chim cảnh.

    Red Fan Parrot khi được nuôi như thú cưng có xu hướng gắn kết với một người và đòi hỏi phải có kinh nghiệm trong cả việc giữ chim và đọc ngôn ngữ cơ thể của vẹt. Tuy nhiên, như với tất cả các loài vẹt, tính khí có thể thay đổi rất nhiều từ cá nhân này sang cá nhân khác và một số vẹt quạt đỏ là những người bạn đồng hành tuyệt vời.

    14. Major Mitchell Cockatoo Vẹt Mào Mitchell Úc

    Vẹt Mào Mitchell ( Lophochroa chìbeateri ), còn được gọi là Cockatoo Leadbeater hay vẹt mào hồng , là loài vẹt cỡ trung sinh sống ở các khu vực nội địa khô cằn và bán khô cằn của Úc

    Với bộ lông trắng và màu hồng cá hồi có kết cấu mềm mại và mào lớn màu đỏ và vàng tươi , chúng thường được mô tả là đẹp nhất trong tất cả các loài vẹt mào. Nó được đặt tên để vinh danh Thiếu tá Thomas Mitchell , người đã từng mô tả về loài chim này như sau: ” Few birds more enliven the monotonous hues of the Australian forest than this beautiful species whose pink-coloured wings and flowing crest might have embellished the air of a more voluptuous region

    Con mái và con đực Mitchell gần như giống hệt nhau. Những con đực thường lớn hơn. Con cái có một dải màu vàng rộng hơn trên đỉnh và phát triển mắt đỏ khi trưởng thành.

    Loài chim này đạt đến độ tuổi sinh sản khi được 3 – 4 tuổi. Con vẹt mào già nhất được ghi nhận đã chết ở tuổi 83.

    Quần thể chim Major Mitchell đã giảm đáng kể do những thay đổi tác động bởi con người đối với vùng nội địa Úc. Major Mitchell thích sống ở những khu rừng rộng lớn, đặc biệt ưa thích các loài cây lá kim ( Callitris spp.), Sheoak ( Allocasuarina spp.) và bạch đàn. Không giống như các loài vẹt mào khác, các cặp Major Mitchell sẽ không làm tổ gần nhau, vì vậy chúng không thể chịu đựng được việc môi trường sống bị phân tán nhỏ, và chúng cần những khu vực có phạm vi rộng để sinh sống.

    Ở vùng Mallee của Victoria, nơi có thể tìm thấy hai loài Galah và Major Mitchell đang làm tổ trong cùng một khu vực, hai loài thỉnh thoảng đã sinh ra những đứa con lai.

    13. Golden Pheasant – Trĩ 7 Màu

    Trĩ 7 Màu còn được gọi là gà lôi Trung Quốc. Như chúng ta đã biết, Chim Trĩ là một loài chim quý hiếm và có giá trị cao về nghệ thuật cũng như giá trị kinh tế đem lại. Chúng trưởng thành trông rất xinh đẹp và quyến rũ với bộ lông nhiều màu sắc sặc sỡ kết hợp và đan xen vào nhau.

    Có nguồn gốc khu vực miền núi phía Tây Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng đã được thuần hóa thành công ở Vương Quốc Anh. Hiện nay, chim trĩ 7 màu đã nhân giống, lai tạo ra nhiều màu sắc khác nhau trên nhiều nước ở Châu Âu, Mỹ và Châu Á.

    Chim trĩ 7 màu trống có chiều dài 90-105cm. Chim trĩ 7 màu mái có chiều dài khoảng 60-80cm. Về cơ bản, ở Việt Nam có thể chia ra 3 loại:

    Chim trĩ 7 màu đỏ

    Chim trĩ 7 màu vàng

    Chim trĩ 7 màu xanh

    Chim trĩ 7 màu sinh sản theo mùa, thông thường từ tháng 2 đến tháng 6 âm lịch. Trong điều kiên chăm sóc tốt có thể đẻ khoảng 15-20 trứng/ 1 mùa. Trứng nở sau 23 ngày.

    Chúng ăn hạt, lá và côn trùng trên mặt đất nhưng chúng đậu trên cây vào ban đêm. Trong mùa đông, đàn có xu hướng tìm kiếm thức ăn gần khu định cư của con người ở bìa rừng, chủ yếu lấy lá và hạt lúa mì. Vì khả năng bay vụng về trong và chỉ có thể bay được những đoạn ngắn, chúng thích chạy và dành phần lớn thời gian trên mặt đất.

    12. Indian Peacock – Chim Công Ấn Độ

    Công Ấn Độ hay Công lam (danh pháp hai phần: Pavo cristatus), một loài chim lớn và màu sắc rực rỡ, là một loài chim công có nguồn gốc từ Nam Á, nhưng đã được du nhập đến nhiều nơi trên thế giới. Loài này lần đầu tiên được đặt tên và được mô tả bởi Linnaeus vào năm 1758, và danh pháp Pavo cristatus được sử dụng đến ngày nay.

    Công trống chủ yếu có màu xanh lam với chiếc mào cánh quạt gồm những sợi lông hình sợi cáp nối với phần chóp có hình cái bàn xẻng. Nổi bật bởi nhiều chuỗi dài những đốm hình mắt đầy màu sắc ghép vào mặt trên từng chiếc lông đuôi thon dài thướt. Những chiếc lông cứng được nâng lên thành hình cánh quạt và vỗ nhẹ trong các màn xòe đuôi tán tỉnh công mái.

    Công mái không có chuỗi đốm mắt rực rỡ, không có bộ đuôi dài, cổ xanh lục thấp và bộ lông màu nâu xỉn.

    Công lam Ấn Độ sống chủ yếu trên mặt đất tại vùng rừng xanh thông thoáng hoặc trên đất canh tác, nơi chúng tìm kiếm quả mọng, ngũ cốc, nhưng chim công cũng ăn con mồi như rắn, thằn lằn và gặm nhấm nhỏ. Tiếng kêu inh ỏi khiến chim công dễ bị phát hiện, trong cánh rừng đó thường báo hiệu sự hiện diện của động vật ăn thịt như loài hổ. Chim công kiếm ăn trên mặt đất theo đàn nhỏ, thường cố vượt qua bụi rậm bằng chân và tránh bay, mặc dù chim công cũng bay lên cây cao để đậu.

    Chim công kiếm ăn trên mặt đất theo các nhóm nhỏ, mà thường là một con trống và 3-5 con mái. Sau mùa sinh sản, những đàn có xu hướng hình thành chỉ có chim mái và đàn chim non. Chúng được tìm thấy vào thời điểm sáng sớm và có xu hướng nấp dưới bụi rậm tránh nắng nóng trong ngày. Chim thích rỉa lông phủi bụi và vào lúc hoàng hôn, đàn chim bước đi theo hàng đơn đến một vũng nước yêu thích để uống. Khi bị quấy rầy, chim công thường trốn bằng cách chạy, hiếm khi bay

    Loài chim này được tôn sùng trong thần thoại Hindu và thần thoại Hy Lạp và là quốc điểu của Ấn Độ. Công Ấn Độ được liệt kê là loài ít quan tâm bởi IUCN.

    11. Rainbow Lorikeet – Vẹt Ngũ Sắc

    Rainbow Lorikeet – Vẹt Ngũ Sắc là một loài vẹt tìm thấy ở Úc . Nó là phổ biến dọc theo bờ biển phía đông, từ phía bắc Queensland đến Nam Úc . Môi trường sống của chúng là rừng mưa nhiệt đới , bụi rậm ven biển và khu vực rừng cây.

    Rainbow Lorikeet có kích thước trung bình, với chiều dài dao động từ 25 đến 30 cm (10 đến 12 in) tính cả đuôi. Trọng lượng thay đổi từ 75 đến 157 g (2,6 .55,5 oz). Đầu có màu xanh thẫm với cổ màu vàng xanh lục và phần còn lại của thân trên (cánh, lưng và đuôi) có màu xanh lá cây. Ngực có màu cam / vàng. Bụng có màu xanh thẫm, đùi có màu xanh. Khi bay, phần lông cánh trên màu vàng tương phản rõ ràng với phần lông dưới cánh màu đỏ. Con non có mỏ màu đen , dần dần chuyển sang màu cam ở người trưởng thành.

    Không giống như vẹt eclectus , Rainbow Lorikeet không có bất kỳ đặc điểm lưỡng hình rõ ràng. Con đực và con mái trông giống hệt nhau, và cần phải phẫu thuật hoặc xét nghiệm DNA để phân nhận biết được giới tính của chúng.

    Rainbow Lorikeet thường đi cùng nhau theo cặp và thỉnh thoảng tập hợp lại thành một bầy lớn để bay cùng nhau, sau đó chúng lại phân tán thành các cặp riêng lẻ. Các cặp bảo vệ khu vực kiếm ăn và làm tổ của chúng một cách quyết liệt trước sự xâm phạm của các cặp khác và cả các loài chim khác.

    Rainbow Lorikeet chủ yếu ăn trái cây, phấn hoa và mật hoa. Chúng sở hữu một chiếc lưỡi thích nghi đặc biệt cho chế độ ăn uống đặc biệt của chúng. Đầu lưỡi được trang bị những chiếc gai nhỏ phù hợp với việc thu thập phấn hoa và mật hoa. Mật hoa từ cây bạch đàn là nguồn thức ăn rất quan trọng ở Úc, các nguồn mật hoa quan trọng khác là Pittosporum , Grevillea , Spathodea campanulata.

    Ở nhiều nơi, bao gồm các khu cắm trại và các khu vườn ngoại ô, những con lorikeet hoang dã đã quá quen thuộc với con người đến nỗi chúng có thể được cho ăn bằng tay. Khoảng 8 giờ sáng và 4 giờ chiều mỗi ngày, những con chim tụ tập thành một đàn lớn, ồn ào trong khu vực chính của công viên. Du khách được khuyến khích cho chúng ăn mật hoa được chuẩn bị đặc biệt và những con chim sẽ vui vẻ đậu trên tay và đầu của mọi người để tham gia bữa tiệc.

    Tuy nhiên, nhiều người không hiểu về chế độ dinh dưỡng đặc biệt của chúng, họ cho chúng ăn bánh mì hoặc bánh mì phủ mật ong. Việc này có thể dẫn đến các vấn đề về sức khỏe và hình thành lông ở những con lorikeet trẻ. Gói hỗn hợp với dinh dưỡng phù hợp cho lorikeet thường có sẵn từ bác sĩ thú y và cửa hàng vật nuôi gần đó.

    Rainbow Lorikeet sinh sản từ cuối mùa đông đến đầu mùa hè (tháng 8 đến tháng 1). Ở những nơi khác ở Úc, việc sinh sản đã được ghi nhận trong mỗi tháng trừ tháng ba, thay đổi từ vùng này sang vùng khác do sự thay đổi trong nguồn thức ăn và khí hậu. Chúng thường làm tổ ở các hốc cây cao như bạch đàn , thân cây cọ hoặc các vách đá nhô ra. Ở quần đảo Admiralty chúng làm tổ trong các lỗ trên mặt đất nơi các đảo nhỏ không có thú ăn thịt. Các cặp đôi khi làm tổ trong cùng một cây với các cặp lorikeet khác hoặc các loài chim khác.

    Chúng đẻ từ một đến ba quả trứng, được ấp trong khoảng 25 ngày. Nhiệm vụ ấp trứng được thực hiện bởi một mình con mái.

    Rainbow Lorikeet chủ yếu theo chế độ một vợ một chồng và vẫn thường ghép đôi với nhau trong thời gian dài.

    10. Masked Trogon

    Masked Trogon là một loài chim thuộc họ Trogonidae . Chúng khá phổ biến trong các khu rừng cao nguyên ẩm ướt ở Nam Mỹ , chủ yếu là Andes và Tepuis

    Masked Trogon có kích thước trung bình, dài 27 cm (11 in) và khối lượng 56 gram (2,0 oz). Giống như tất cả các loài trogons, chúng dị hình giới tính mạnh (tức con đực có ngoại hình khác so với con mái).

    Phần trên, đầu và ngực trên của con đực có màu xanh lục bóng, đỏ đồng hoặc vàng lục khác nhau (tùy thuộc vào phân loài). Bụng và ngực dưới có màu đỏ; phần sau tách ra từ ngực trên màu xanh lục bằng một dải màu trắng hẹp. Con đực có vòng mắt khác biệt, có màu đỏ trong hầu hết các phân loài, nhưng có xu hướng màu cam trong các phân loài từ tepuis. Con cái có màu nâu ở trên, với bụng và ngực màu hồng đến đỏ; dải màu trắng ngăn cách màu nâu và đỏ ở mặt dưới của nó thường hẹp hoặc bị che khuất. Con cái của tất cả các phân loài có vòng mắt màu trắng một phần

    Chúng ăn côn trùng và trái cây ,Mặc dù chúng bay của họ rất nhanh, nhưng chúng thường ít di chuyển bằng chân. Trogon thường không di cư. Chúng là loại động vật duy nhất có sự sắp xếp ngón chân dị. Chúng làm tổ trong các hốc đào ở thân cây hoặc tổ mối, đẻ 2 quả trứng màu trắng hoặc màu pastel. Thời gian ấp trứng thay đổi tùy theo loài, thường kéo dài trong khoảng 16 ngày 19 ngày. Những con chim non có lông mọc nhanh chóng và chúng mất 23-25 ngày để rời tổ.

    Chân và bàn chân của họ yếu và ngắn, và trogons về cơ bản không thể đi bộ ngoài khả năng chuyển động nhẹ dọc theo một nhánh cây. Chúng thậm chí không có khả năng quay vòng trên cành cây mà không sử dụng đôi cánh của chúng. Tỷ lệ cơ chân so với trọng lượng cơ thể trong trogons chỉ là 3 phần trăm, tỷ lệ thấp nhất được biết đến của bất kỳ loài chim nào. Sự sắp xếp các ngón chân trên bàn chân của trogons cũng là duy nhất giữa các loài chim

    9. Blue jay – Giẻ cùi lam

    Giẻ cùi lam là một loài chim thuộc họ Quạ, là loài bản địa của Bắc Mỹ. Chúng sống ở khắp miền Đông và Trung Hoa Kỳ và miền Nam Canada, những cá thể sống ở miền Tây có thể di cư.

    Loài này sinh sản trong các khu rừng rụng lá và rừng tùng bách, và thường gần các khu dân cư. Chúng thường có màu lam với ức và bụng màu trắng, và mào màu lam. Nó có vòng lông hình chữ U màu đen quanh cổ và viền đen sau mào.

    Không có sự khác biệt về kích thước và bộ lông giữa con đực và cái, và bộ lông không thay đổi trong năm. Có 4 phụ loài của loài này đã được ghi nhận.

    Giẻ cùi lam ăn chủ yếu là các loại hạt, cây sồi, trái cây mềm, động vật chân đốt, và thỉnh thoảng ăn các loài động vật có xương sống nhỏ. Chúng đặc biệt nhặt thức ăn từ cây, cây bụi, và trên mặt đất, mặc dù đôi khi săn bắt côn trùng.

    Cả chim bố và mẹ cùng xây tổ hình chiếc cốc hở trên nhánh cây. Tổ có thể chứa 2 đến 7 trứng, các trứng có màu lam hoặc nâu nhạt với các đốm màu nâu.

    Chim mới nở được mẹ mớm mồi trong vòng 8-12 ngày. Chúng ở trong tổ cùng chim bố mẹ trong vòng 1 đến 2 tháng trước khi rời tổ.

    8. Turaco

    Touraco được tìm thấy trên các khu rừng thường xanh đến thảo nguyên ở Châu Phi. Có khoảng 18 loài chim đáng yêu này. Màu sắc của chúng có thể thay đổi từ đỏ, xanh lá cây, xanh dương, vàng, tím và nâu.

    Turacos cũng là loài chim thú cưng phổ biến. Trong điều kiện nuôi nhốt chúng có thể sống hơn ba mươi tuổi. Turacos thích ăn chuối, nho và đu đủ. Một con Turaco nuôi bởi con người khá thân thiện và cũng có thể được cho ăn bằng tay.

    Turacos là loài chim sống trên cây đặc hữu của Châu Phi vùng cận Sahara , nơi chúng sống trong rừng và thảo nguyên. Chúng sống thành bầy không di cư mà di chuyển theo nhóm gia đình lên đến 10 cá thể. Nhiều loài khá ồn ào, thường xuyên kêu lên báo động sự hiện diện của động vật khác hoặc của của kẻ thù. Chúng xây những chiếc tổ lớn trên cây, và đẻ 2 hoặc 3 quả trứng.

    Turacos là những con chim có kích thước trung bình. Chúng có chiều dài từ 40 đến 75 cm. Khả năng bay lượn kém, nhưng là những tay leo trèo cự phách, di chuyển nhanh nhẹn trên cành cây và qua các thảm thực vật. Con non có móng vuốt trên cánh giúp chúng leo trèo.

    Chúng có cách sắp xếp bàn chân độc đáo, trong đó ngón chân thứ tư có thể được đưa ra phía sau bàn chân, gần như chạm vào ngón chân thứ nhất, hoặc xoay ra phía trước gần ngón thứ hai và thứ ba . Mặc dù có sự linh hoạt này, ngón chân thực sự thường được giữ ở góc vuông với trục của bàn chân.

    Turacos là những con chim có màu sắc rực rỡ, thường là xanh dương, xanh lá cây hoặc tím. Màu xanh lục trong turacos đến từ turacoverdin, sắc tố xanh thực sự duy nhất ở loài chim được biết đến cho đến nay. Màu xanh lá cây trên lông của các loài chim khác đến từ sự phản xạ không đầy đủ của ánh sáng, khi ánh sáng từ sắc tố vàng đi qua các tế bào xanh dương hoặc ngược lại. Cánh Turaco chứa sắc tố đỏ turacin , không giống như ở các loài chim khác, nơi màu đỏ là do carotenoids. Cả hai sắc tố đều có nguồn gốc từ porphyrin và chỉ được biết đến từ loài Musophagidae hiện nay.

    7. Macaws

    Vẹt Macaw (phát âm tiếng Việt như là Vẹt Mắc-ca) hay còn gọi là Vẹt đuôi dài là tập hợp đa dạng các loài vẹt có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc và thuộc về phân họ Vẹt Tân thế giới Arinae phân bố phần lớn ở Nam Mỹ. Nhiều loài trong số chúng được ưa chuộng để nuôi làm chim cảnh.

    Các loài vẹt Macaw lớn có chiều dài trung bình từ 50 cm (Military Macaws – vẹt quân sự) tới 110 cm (Hyacinth Macaws – vẹt lục bình) bao gồm cả chiếc đuôi dài của chúng. Loài vẹt Macaw nhỏ hơn có chiều dài từ 25 tới 50 cm.

    Vẹt Macaws ăn nhiều loại thực phẩm bao gồm hoa quả, trái cây cọ, các loại hạt, mầm, lá, hoa, và thân cây. Trong môi trường hoang dã chúng có thể di chuyển hơn 100km để tìm thức ăn.

    Một số loại thực phẩm loài vẹt đuôi dài ăn trong tự nhiên có chứa chất độc hại. Người ta cho rằng vẹt đuôi dài ở lưu vực sông Amazon ăn đất sét từ bờ sông, để trung hòa các chất độc này. Hàng trăm con vẹt đuôi dài và vẹt khác ở phía tây Amazon xuống đến bờ sông tiếp xúc với tiêu thụ đất sét hầu như hàng ngày ngoại trừ những ngày mưa.

    Khi được chăm sóc đúng cách, một số loài Macaw, chẳng hạn như loài Macaw xanh và vàng có thể sống trung bình 60 năm, và nhiều loài đã được ghi nhận sống tới 80 năm hoặc thậm chí hơn như vậy.

    Những người quan tâm đến việc chăm sóc một con vẹt Macaw được khuyến cáo mạnh mẽ đảm bảo rằng họ sẵn sàng cam kết có đủ thời gian để chăm sóc cho vẹt cưng của họ. Không có gì lạ khi những con chim này sống lâu hơn chủ của chúng, vì vậy bạn hãy chuẩn bị kỹ lưỡng phương cách chăm sóc và thời gian của mình trước khi nhận nuôi bất kì chú vẹt cưng nào.

    6. Flamingo – Chim Hồng Hạc

    Chim Hồng Hạc có tên tiếng anh là Flamingos, thuộc họ Phoenicopteridae, là một loài chim lội nước. Khi trưởng thành, hồng hạc cao 1,2m đến 1,5m. Tuy nhiên so với chiều cao thì chúng rất nhẹ, chỉ từ 1,8kg đến 3,6kg. Điều này lý giải một phần ý nghĩa của câu “mình hạc xương mai”.

    Chim hồng hạc thường sống ở các hồ lớn, nông hoặc các đầm phá ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Những nguồn nước này có thể ở trong khu vực đất liền hoặc gần đại dương. Một số chim hồng hạc di cư do sự thay đổi của môi trường sống như nguồn thức ăn và nước uống. Hầu hết chim hồng hạc không di cư. Các quần thể chim hồng hạc Andean thường sinh sản ở độ cao khi di chuyển đến các khu vực ấm hơn trong mùa đông.

    Chúng sinh sống chủ yếu tại các nơi nước nông, vùng đầm lầy và tụ tập theo đàn có số lượng từ vài chục đến hàng ngàn con, tạo thành một xã hội chim thu nhỏ. Những đàn trung bình thường có 71 con. Kỷ lục đã ghi lại khi có đàn khoảng một triệu con hồng hạc tập trung tại Đông Phi. Tuy sống theo đàn với số lượng cá thể lớn, nhưng chúng chỉ kết đôi và sống chung thủy với nhau. Đôi khi vẫn có một vài con lén lút “ngoại tình” nhưng rất ít.

    Chim hồng hạc mới sinh cho đến khi trưởng thành thay đổi màu sắc dần dần: chuyển từ trắng sang hồng. Nguyên nhân của hiện tượng này là do thức ăn của chúng. Chim hồng hạc thường ăn tảo, ấu trùng nhỏ, động vật thân mềm,tôm, cá nhỏ ở các vùng nước mặn. Những thực phẩm này đều có chứa rất nhiều carotene – đây là nguyên nhân làm cho bộ lông trắng sẽ chuyển dần sang hồng.

    Cấu tạo mỏ của chim Hồng Hạc khác hoàn toàn với phần lớn các loài chim khác, và cả con người. Mỏ trên của chúng hoạt động rất linh hoạt, có thể cử động lên xuống, nhưng mỏ dưới bị giữ cố định. Khi ăn, Hồng Hạc chúi đầu ngập xuống nước, đầu quay ngược lên trên (giống lưỡi câu); chân có thể khoắng bùn để lật các loại động vật, ấu trùng nhỏ. Khi đó chúng mở to mỏ trên, rút lưỡi vào trong để nước tràn vào. Sau đó khép mỏ lại và dùng lưỡi đẩy nước qua mũi. Mũi chim hồng hạc có cấu tạo đặc biệt (giống như tổ ong) có tác dụng lọc thức ăn.

    Hồng hạc cần chạy đà vài bước để tạo lực đẩy khi chuẩn bị bay. Chúng bay cùng nhau trong một đàn lớn và tận dụng sức đẩy của gió. Chim hồng hạc thường đứng trên một chân. Chúng dành tới 30% khoảng thời gian để rỉa lông của mình. Thời gian chim hồng hạc đạt đến độ trưởng thành và đủ khả năng sinh sản là 6 năm.

    Các loài chim hồng hạc đều xây tổ bằng cách kéo bùn về phía chân chúng và tạo thành một gò cao tới 60 cm. Các tổ được xây rất gần nhau. Mỗi lần sinh, hồng hạc cái thường đẻ một trứng, rất ít khi có hai trứng. Thời gian ấp kéo dài từ 27 đến 31 ngày, cả con đực và cái đều thay phiên nhau ấp trứng.

    Chúng ở bên con và chăm sóc con đến khoảng 5-6 năm. Dạy chim non từ cách bơi, tìm kiếm thức ăn. Khi chim non còn nhỏ, Hồng hạc cho con ăn qua việc tiết một lượng sữa. Sữa của chim Hồng hạc là chất lỏng màu đỏ cam, giàu Protein được tiết ra từ tuyến đặc biệt có trên bộ phận tiêu hóa.

    Sự thật thú vị về chim Hồng Hạc

    – Lông của chúng màu trắng và xám khi còn nhỏ và đổi màu dần trong quá trình sinh trưởng và tiếp nhận thức ăn.

    – Chúng có cấu tạo mỏ kỳ lạ, vì vậy hồng hạc ăn ngược

    – Rất điệu đà. Hồng hạc dành 15%-30% thời gian trong ngày để làm sạch lông.

    – Chim đực cũng có sữa, gọi là “sữa diều”.

    – Nó thích đứng một chân.

    – Trong tự nhiên, tuổi thọ của chim Hồng hạc từ 20 -30 tuổi. Kỷ lục của một con chim hồng hạc già nhất được ghi nhận là 70 tuổi.

    – Chúng chỉ đẻ duy nhất một trứng trong một lần sinh sản.

    – Hồng hạc có lông cánh bên dưới màu đen, chỉ khi nó bay bạn mới nhìn thấy.

    – Đôi khi chúng còn ăn cắp tổ của nhau – Bệnh lười và khôn lỏi khá giống tôi.

    – Chim Hồng hạc có thể phát hiện mưa cách nó 500km. Cảm giác về thời tiết của nó đến nay vẫn là điều bí ẩn.

    5. Taiwan blue magpie – Chim Ác Là Đài Loan

    Ác là Đài Loan, tên khoa học là Urocissa caerulea là một loài chim trong họ Corvidae. Đây là giống chim đặc hữu sống tại vùng núi ở Đài Loan

    Ác là Đài Loan có kích thước bằng ác là châu Âu, nhưng đuôi dài hơn. Thân dài 64-65 cm. Cảnh dài 18-21 cm và đuôi dài 40 cm. Bộ lông của chim trống và chim mái trông như nhau. Đầu, cổ và ngực có màu đen; mắt có màu vàng; mỏ và chân có màu đỏ; phần còn lại của bộ lông có màu từ xanh da trời đậm đến màu tím. Loài chim này cũng có những mảng màu trắng trên cánh và đuôi.

    Ác là Đài Loan không sợ con người. Chúng có thể được tìm thấy ở gần nơi cư trú của con người ở vùng núi hay vùng đất mới trồng. Chúng sinh sống thành bầy và thường được tìm thấy trong nhóm sáu hoặc nhiều hơn, bay lướt đi như con thoi và trong rừng. Khi bay trong một nhóm, chúng bay nối đuôi nhau. Đôi khi, chúng có thể bay thành một hàng.

    Tương tự như các thành viên khác của họ quạ, chúng có một tiếng kêu khàn khàn quang quác, chúng là những kẻ ăn xác thối và động vật ăn tạp. Thức ăn của chúng bao gồm rắn, động vật gặm nhấm, côn trùng nhỏ, vật, trái cây và các loại hạt. Quả sung dại và đu đủ là những món ưa thích của loài này. Chúng lưu trữ thức ăn thừa trên mặt đất bằng cách đậy lại bằng lá để ăn sau. Đôi khi họ lưu trữ thực phẩm trong lá hoặc nhánh cây

    Ác là Đài Loan có chế độ một vợ một chồng. Chim mái ấp trứng trong khi chim trống giúp xây tổ và kiếm thức ăn cho chim con. Tổ của chúng thường được tìm thấy trong rừng và cỏ dại và chủ yếu được xây trên cành cao hơn từ tháng 3 đến tháng 4.

    Tổ có hình dạng giống như một cái bát và được dệt bằng cành cây và cỏ dại. Thông thường có 3-8 quả trứng một lứa. Trứng có màu xanh ô liu, với các đốm màu nâu sẫm. Thời gian ấp trứng 17-19 ngày và tỷ lệ nở là 78,3%, do đó mỗi tổ có 3-7 chim con. Ác là Đài Loan có một hành vi bảo vệ tổ mạnh mẽ, và sẽ tấn công dữ dội những kẻ xâm nhập cho đến khi kẻ thâm nhập bỏ đi.

    4. Himalayan Monal Chim Trĩ Himalayan

    Himalaya monal ( Lophophorus impejanus ), Đây là một loài chim đẹp trong gia đình họ trĩ, và nó cũng là một loài chim quốc gia của Nepal. Chúng được tìm thấy ở dãy Himalaya từ phía đông Afghanistan đến Bhutan, ngoài ra chúng cũng được tìm thấy ở một số nơi khác như đông bắc Ấn Độ, miền nam Tây Tạng và Miến Điện.

    Himalaya monal là loài chim có kích thước cơ thể tương đối lớn với chiều dài trung bình khoảng 70cm, cân nặng khoảng từ 1,8 đến 2,4kg.

    Chim trống trưởng thành có bộ lông nhiều màu, trong khi chim mái thường có một màu xám rằn ri và một vệt trắng nổi bật phía dưới cổ. Chim chưa trưởng thành có màu lông giống với chim mái.

    Bộ lông của chim trống được đánh giá là đẹp, bao gồm màu xanh ngọc ở trên đầu có kèm theo những sợi lông mào, kế đến là màu đen ở hai bên mặt, màu cam ở phía trên cổ, phần nối giữa cổ và lưng có màu vàng xanh, trên lưng và cánh là màu xanh tía, đuôi là một màu nâu cam. Phần bụng dưới là màu đen.

    Vào mùa hè chúng thường xuất hiện lang thang trên các sườn đồi cỏ, và thường bị bắt gặp trong các chuyến bay giữa các thung lũng rất đẹp mắt.

    Vào mùa đông chúng thường xuất hiện trong các rừng cây lá kim và đi bộ trên tuyết.

    Himalaya monal có đôi chân khoẻ và cái mỏ thích hợp cho việc đào xới đất cứng để tìm thức ăn. Phương pháp tìm kiếm thức ăn của chúng để lại dấu vết rõ ràng với những vết lõm xuống đất sâu đến 25cm. Khẩu phần ăn khá đa dạng bao gồm các hạt, củ, chồi, quả mọng và côn trùng.

    Mùa sinh sản bắt đầu vào tháng 4, Chim trống thu hút chim mái bằng các cuộc gọi và vũ điệu tán tỉnh đơn giản chủ yếu là phô bày vẻ đẹp cơ thể. Khi một chim mái chú ý và chấp nhận làm bạn, không lâu sau đó chim mái sẽ đẻ từ 3 đến 5 quả trứng trên mặt đất.

    Chim mái sẽ ấp trứng một mình khoảng 27 ngày và chim trống có trách nhiệm canh giữ bảo vệ tổ. Các chim non sau khi nở sẽ theo bố mẹ và nhận sự chăm sóc khoảng 6 tháng, sau đó chúng bắt đầu cuộc sống độc lập.

    Hiện nay loài chim này tuy có giảm đi do các tác nhân môi trường sống bị thu hẹp và nạn săn bắn, tuy nhiên chúng không có nguy cơ cao.

    3. Indian Roller Bird

    Chim sả rừng hay còn gọi là sả Ấn Độ (danh pháp hai phần: Coracias benghalensis) chúng phân bố ở nhiều ở khu vực châu Á, từ Irac và các tiểu vương quốc Ả-rập, Nam Á qua Tiểu lục địa Ấn Độ.

    Môi trường sống chính của nó bao gồm các khu vực trồng trọt, rừng thưa và đồng cỏ. thức ăn chủ yếu là côn trùng, thông thường chúng bắt mồi trên không trung, các loài bò sát nhỏ,

    Khi đi săn mồi chúng thường đậu trên các cành cây để quan sát, đôi khi chúng cũng ăn cả động vật có vú nhỏ như chuột.

    Chúng có chiều dài cơ thể khoảng 26-27cm, lưng có màu nâu vàng, cổ và ngực có màu tía, trên cổ có những sợi lông trắng đen chạy dọc theo cổ,

    Phần đầu cánh là một màu xanh đậm, phần giữa cánh và bụng có màu xanh nhạt, đuôi và và cánh có các màu xanh đậm và nhạt sen kẽ , tổng thể loài chim này có bộ lông vô cùng xinh đẹp.

    Sả rừng không phải là loài chim di cư nhưng thỉnh thoảng chúng cũng di chuyển nơi ở theo mùa. Một số nơi của Ấn Độ chọn hình ảnh chim sả rừng để làm biểu tượng.

    Mùa sinh sản là từ tháng 3 đến tháng 6, chúng làm tổ trong các lỗ trên cây hoặc vách đất, bên trong tổ chúng sử dụng các mảnh vụn của gỗ để lót, chim mái sẽ đẻ khoảng từ 3-5 trứng. Cả chim bố và mẹ sẽ cùng nhau ấp trứngtừ 17-19 ngày, chim non sẽ rời khỏi tổ sau khoảng 1 tháng.

    2. Hummingbirds – Chim Ruồi

    Chim ruồi là một trong những loài chim nhỏ nhất, trong đó chim ruồi ong hiện là loài chim bé nhỏ nhất trên Trái đất với chiều dài chỉ khoảng 5cm.

    Loài chim dễ thương này có thể khả năng đặc biệt, đó là bay đứng giữa không trung nhờ khả năng đập cánh cực nhanh (dao động khoảng từ 12 tới 90 lần một giây tùy theo loài).

    Để hỗ trợ cho khả năng đập cánh nhanh này, tim của chim ruồi có thể đập tới hơn 1200 nhịp một phút, nhanh gấp 10 lần nhịp tim của con người. Cơ thể của chim ruồi rất nhỏ, nhịp đập cánh rất nhanh và nhiệt độ cơ thể rất cao. Điều này nói lên rằng chim ruồi cần rất nhiều năng lượng từ các nguồn thức ăn. Một khi những con chim ruồi này thiếu thức ăn thì chúng lập tức sẽ uể oải, nhịp đập cánh chậm chạp hơn để tiết kiệm một chút năng lượng còn lại trong cơ thể của chúng.

    Một vài loài chim ruồi cũng đi di cư tìm mồi và trú đông. Những loài chim ruồi đặc biệt này có sức bay rất lớn và chúng thường là những con chim ruồi châu Mỹ. Sức chịu đựng của chim ruồi cũng rất phi thường, đến mức chúng có thể bay qua quãng đường 800km trên vịnh Mexico mà không cần nghỉ.

    Chim ruồi rất thích uống mật hoa và hình ảnh của chúng cũng thường gắn với việc đang hút mật. Tuy nhiên, chúng cũng ăn cả sâu bọ và nhện nữa, nhất là các con non.

    Chim ruồi có tuổi đời trung bình khoảng 3 – 5 năm nhưng cá biệt có con sống tới 12 năm. Hiện tại người ta đã xác định được khoảng 400 chủng loại chim ruồi khác nhau. Mỗi loài chim ruồi lại có tiếng hót khác nhau và đó là một trong các tiêu chí giúp phân biệt chúng.

    Vào mùa sinh sản, chim đực thu hút con cái bằng cách khoe phần ngực, nơi có phần lông sặc sỡ nhất, và di chuyển phần đầu từ bên này sang bên kia để lớp lông được phản chiếu ánh sáng bắt mắt. Chim đực cũng có thể biểu diễn trong lúc bay lượn để thể hiện sức mạnh và khả năng kiểm soát trước mặt con cái.

    Tổ chim ruồi có kích thước khá nhỏ, được làm từ lá cây, mạnh nhện, cành cây và các vật liệu khác. Các tổ chim được xây dựng với cấu trúc và màu sắc sự tương đồng với môi trường xung quanh và được bảo vệ rất kỹ.

    1. Resplendent Quetzal – Chim Nuốc Nữ Hoàng

    Nuốc nữ hoàng, danh pháp khoa học là Pharomachrus mocinno, là một loài chim trong họ Trogonidae. Nuốc nữ hoàng là quốc điểu của nước Guatemala, chúng còn được xuất hiện trên quốc huy và quốc kỳ của nước này.

    Bên cạnh Guatemala, Nuốc nữ hoàng còn phân bố nhiều ở những quốc gia Trung Mỹ khác. Xứng đáng với cái tên nữ hoàng của mình, loài chim này có bộ lông vô cùng sặc sỡ cùng với chiếc chiếc đuôi dài rất “quý phái”.

    Loài này dài 36 đến 40 cm riêng con trống lên đến 65 cm nhờ chiếc đuôi cực dài quyến rũ. Con trưởng thành nặng khoảng 210 g.

    Nuốc nữ hoàng có một cơ thể màu xanh lá cây (hiển thị ánh kim từ vàng xanh đến xanh tím) và ngực đỏ. Tùy thuộc vào ánh sáng, lông Nuốc nữ hoàng có thể tỏa sáng trong một biến thể của màu sắc: xanh lá cây, coban, vôi, vàng, đến ultramarine. Phần lông trên đuôi màu xanh lá cây che phủ phần đuôi thật của chúng và ở những con đực, những chiếc lông này đặc biệt lộng lẫy, dài hơn phần còn lại của cơ thể.

    Mặc dù bộ lông quetzal xuất hiện màu xanh lá cây, chúng thực sự có màu nâu do sắc tố melanin. Các lớp phủ cánh chính cũng dài bất thường và mang lại vẻ ngoài tua rua. Con đực có mào giống như chiếc vương miện. Một phần được bao phủ bởi lông vũ màu xanh lá cây, có màu vàng ở con đực trưởng thành và màu đen ở con cái. Bộ lông óng ánh của chúng, khiến chúng có vẻ sáng bóng và màu xanh lá cây là một sự thích nghi ngụy trang để ẩn trong tán cây.

    Da của quetzal rất mỏng và dễ bị rách, vì vậy nó đã tiến hóa bộ lông dày để bảo vệ da của nó. Giống như các thành viên khác trong gia đình trogon, nó có đôi mắt to dễ dàng thích nghi với ánh sáng mờ ảo của rừng rậm.

    Nuốc nữ hoàng được coi là chuyên gia ăn trái cây , mặc dù chúng cũng kết hợp chế độ ăn của chúng với côn trùng ( ong bắp cày , kiến và ấu trùng ), ếch và thằn lằn. Đặc biệt quan trọng là bơ và các loại trái cây khác thuộc họ nguyệt quế , loài chim nuốt chửng toàn bộ trái cây qua đó giúp phân tán những hạt cây này qua đường bài tiết.

    Mùa sinh sản là từ tháng 3 đến tháng 4 ở Mexico, tháng 5 đến tháng 6 ở El Salvador và tháng 3 đến tháng 5 ở Guatemala. Khi sinh sản, con cái đẻ hai quả trứng màu xanh nhạt trong một cái tổ đặt trong một cái lỗ mà chúng khoét trên thân cây mục.

    Cả con trống và con mái thay phiên nhau ấp trứng, với bộ lông dài đuôi của chúng được gấp về phía sau và thò ra khỏi lỗ, khiến nó trông giống như một đám dương xỉ mọc ra từ thân cây. Thời gian ấp kéo dài khoảng 18 ngày, trong đó con đực thường ấp trứng vào ban ngày trong khi con cái ấp trứng vào ban đêm.

    Khi trứng nở, cả bố và mẹ đều chăm sóc con non, cho chúng ăn trái cây, quả mọng, côn trùng, thằn lằn và ếch nhỏ. Tuy nhiên, con cái thường bỏ bê và thậm chí bỏ rơi con non gần cuối giai đoạn nuôi, để con đực tiếp tục chăm sóc con cái cho đến khi chúng sẵn sàng tự mình sống sót.

    0. Bird of Paradise – Chim Thiên Đường

    Trong thế giới loài chim, họ chim thiên đường (Paradisaeidae) được cho là có bộ lộng sặc sỡ và quyến rũ nhất trên hành tinh xanh. Bộ lông của những con chim trống được sử dụng trong những “nghi thức” tán tính kỳ lạ trong mùa kết đôi.

    Ngoài bộ lông tuyệt đẹp, Chim thiên đường còn sở hữu tiếng hót độc đáo và cổ xưa nhất. Họ Chim thiên đường dao động về kích thước từ nhỏ như ở chim thiên đường vua chỉ nặng 50 gam và dài 15 cm tới loài mỏ liềm đen dài 110 cm và manucode mào xoăn nặng tới 430 gam

    Các loài trong họ Thiên đường nói chung trông giống như quạ về hình thái cơ thể chung, và trên thực tế là nhóm có quan hệ chị-em với họ Quạ. Chúng có mỏ chắc mập hoặc dài và chân khỏe, với khoảng hai phần ba số loài là dị hình giới tính mạnh (tức là con đực có ngoại hình hoàn toàn khác biệt với con mái).

    Chúng sống trong các khu rừng nhiệt đới, bao gồm rừng mưa nhiệt đới, rừng đầm lầy và rừng rêu. Ở phần lớn các loài, thức ăn chủ yếu là trái cây, mặc dù một số loài cũng thích ăn cả sâu bọ và các động vật chân khớp khác.

    Các loài trong họ này xây tổ từ các vật liệu mềm, như lá, dương xỉ, tua dây leo, thường là trên các chạc cây. Số lượng trứng đẻ mỗi lần khá đa dạng. Ở các loài to lớn hơn, gần như chỉ là một quả. Các loài nhỏ hơn có thể đẻ 2-3 trứng. Trứng được ấp nở trong 16-22 ngày, và chim non rời tổ trong khoảng từ 16 tới 30 ngày tuổi.

    Top 10 loài Chim Thiên Đường đẹp nhất

    King of Saxony

    Lesser Bird of Paradise

    Twelve-wired Bird

    Victoria’s Riflebird

    Greater Bird of Paradise

    Red bird of paradise

    Magnificent Birds of Paradise

    Wilson bird of paradise

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Loài Chim Đẹp Nhất Thế Giới
  • Cách Nhìn Của Phật Giáo Đối Với Thú Nuôi Chim Cảnh
  • Giới Thiệu Về Cánh Chim Việt
  • 39 Điểm Hot Nhất Du Lịch Đà Lạt
  • Bao Quang Tri : Đam Mê Chim Cảnh
  • Top 10 Loài Chim Đẹp Nhất Trên Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Nuôi Chim Cu Gáy Bổi Nhanh (Nhanh Nói) Thế Nào?
  • Chim Sâm Cầm Sống Ở Đâu, Có Tác Dụng Gì, Giá Bao Nhiêu Tiền?
  • Sự Khác Nhau Giữa Gà Trống Và Gà Mái 2022
  • Cách Phân Biệt Chim Cu Gáy Trống Và Mái Chính Xác Nhất
  • Những Loài Vật Đột Biến Tưởng Vô Giá Trị, Ai Dè Bỏ Cả Núi Tiền Mới Mua Được
  • Chim Trĩ vàng

    Giống chim trĩ vàng (Golden Pheasant) có tên khoa học là chrysolophuspictus, từ lâu được nhiều người chọn nuôi làm cảnh vì mình chúng khoác bộ lông nhiều màu sặc sỡ, với mảng màu vàng óng phủ suốt từ đỉnh đầu đến tận gốc đuôi, riêng phần cổ và cánh đan xen nhiều khoang đặc trưng với các sắc lông đen, vàng, tím, còn phần ức và bụng được phủ kín tuyền sắc lông màu đỏ tươi. Đó là chưa nói đến cái đuôi thật dài với nhiều vân đan xen như trăm ngàn ánh sao lấp lánh tuyệt đẹp.

    Trĩ vàng nhờ có bộ lông sặc sỡ nên từ lâu đã được đánh giá là giống trĩ đẹp nhất so với các giống trĩ khác ở Á Châu, nên thời nào cũng bán được giá cao và có thị trường tiêu thụ mạnh. Thức ăn của chúng ngoài hoang dã chủ yếu là lá cây, chồi non, măng của tre trúc. Chúng cũng ăn côn trùng và nhiều động vật nhỏ… hiện nay ở Việt nam cũng đã nuôi được loài chim này để phục vụ cho du khách tham quan.

    Nơi cư trú: Vùng rừng núi miền Tây Trung Quốc là chủ yếu, ngoài ra có một vài quần thể hoang dã khác.

    Hồng hạc (Phoenicopteridae)

    Hồng hạc là tên loài chim lội nước thuộc họ Phoenicopteridae, bộ Phoenicopteriformes. Chúng sống ở cả Tây bán cầu và Đông bán cầu, nhưng sống ở Tây bán cầu nhiều hơn. Có 4 loài sống ở châu Mỹ và 2 loài sống ở Cựu Thế giới. Phân loại Sibley-Ahlquist trong thập niên 1990 đã xếp hồng hạc vào bộ Hạc thay vì bộ Hồng hạc. Chim hồng hạc có đặc điểm đặc biệt là thích đứng một chân đã làm nhiều nhà khoa học khó hiểu. Sau khi nghiên cứu một số nhà khoa học đoán hồng hạc đứng một chân để giữ sức và lưu thông máu tốt hơn.

    Hồng hạc khi mới sinh ra thì chúng có bộ lông màu trắng, mãi sau này khi lớn lên màu lông đổi sang màu hồng nhạt hoặc đỏ thẫm là nhờ vào nguồn thức ăn nơi chúng sinh sống. Chim Hồng hạc thường thức giấc trước lúc bình minh, đi thành từng bầy lớn để kiếm ăn, vào cuối ngày chúng lại di chuyển đến các vùng nước nông để nghỉ ngơi.

    Nơi cư trú: Sống ở cả Tây bán cầu và Đông bán cầu.

    Hoàng oanh phương Bắc ( Icterus galbula)

    Hoàng oanh phương Bắc là một loài chim không to lắm với bộ lông đen và vàng xen kẽ, chỉ nặng chừng 34g và dài 18cm. Là một trong những loài chim màu rực rỡ, hoàng oanh không chỉ đẹp mà còn hót rất hay. Chẳng thế, người ta thường dùng thành ngữ “thỏ thẻ giọng oanh vàng” để chỉ người phụ nữ.

    Loài chim này có kích cỡ trung bình, chúng có mỏ tương đối khỏe và nhọn, các chân và các ngón tương đối ngắn nhưng lại chắc chắn. Màu lông của chúng rất bắt mắt với màu vàng tươi, trên đầu bộ lông có màu đen và trải dài xuôi hai đôi cánh, đôi chỗ xen lẫn thêm chút vàng đậm tạo nên sự sặc sỡ của chúng. Loài chim này là loại chim ăn tạp với thức ăn chủ yếu là hoa quả, sâu bọ và mật ong.

    Nơi cư trú: Phía đông bán cầu.

    Tucan mỏ đục (Ramphastos sulturatus)

    Chim Toucan Swainson hay còn gọi là Chim Toucan mỏ đục (Danh pháp khoa học là Ramphastos ambiguus swainsonii) là một phân loài của loài chim Toucan hàm đen. Tên khoa học tiếng Anh của chúng bắt nguồn từ nhà nghiên cứu chim kiêm nghệ sĩ người Anh là William Swainson. Đây là loài chim có hình dáng đẹp và được ưa chuộng để nuôi làm cảnh ở một số quốc gia.

    Giống như những con chim Toucans khác, chim Toucan hàm nâu hạt dẻ có một vệt sáng trên đầu và có một cái mỏ trông lớn hơn. Những con trống có chiều dài 56 cm, trong khi những con mái nhỏ hơn thường dài 52 cm. Trọng lượng trung bình của chúng khoảng 599 – 746 gram. Cả hai giới đều giống nhau về hình dạng, chủ yếu là màu đen, lưng và ngực thấp hơn. Các mặt và ngực phía trên có màu vàng tươi sáng, với những đường hẹp trắng và rộng hơn màu đỏ tạo thành một đường biên thấp hơn. Phần phía trên đuôi là màu trắng và phần dưới bụng có màu đỏ. Chân chúng có màu xanh. Bộ lông cơ thể là tương tự như của loài Ramphastos sulfuratus nhưng nhỏ hơn, nhưng các mô hình này là khá khác nhau, được chia thành đường chéo màu vàng rực rỡ và màu nâu sẫm.Chim non, chim ra ràng có muội đen, và có bộ lông màu nhạt, đặc biệt là đối với các cái mỏ, viền màu đỏ, và hàm dưới thấp hơn. Chúng được nuôi dưỡng bởi chim bố mẹ trong vài tuần sau khi rời tổ. Những tiếng kêu của Chim Toucan hàm nâu hạt dẻ mandibled là một giọng âm thanh nghe như yo-yip, từng nhịp yip, yip một, nó nghe như giai điệu của bản Dios te dé, Dios te dé. Tiếng kêu của nó để duy trì liên lạc cũng như thể hiện địa vị của mỗi con.

    Nơi cư trú: Nam Mỹ, từ nam Mehico tới Honduras.

    Vẹt Macaw

    Vẹt Macaw hay còn gọi là Vẹt đuôi dài là tập hợp đa dạng các loài vẹt có đuôi dài, từ nhỏ đến lớn, thường sặc sỡ màu sắc và thuộc về phân họ Vẹt Tân thế giới Arinae phân bố phần lớn ở Nam Mỹ. Nhiều loài trong số chúng được ưa chuộng để nuôi làm chim cảnh.

    Vẹt Macaw dài 84 – 89 cm, trọng lượng 900 – 1,490 g, là một trong những con vẹt kích thước lớn nhất. Cơ thể chủ yếu là sáng màu đỏ tươi, mắt và má da trần có ít lông bên màu đỏ, Cổ màu đỏ tươi. Giáp cổ màu đỏ vàng, mỏ dưới đen mỏ trên màu ngà cuối mỏ màu đen. Lông cánh giữa phía trên có màu vàng trộn màu xanh lá cây, lông vũ chính ngoài cùng là màu xanh, và bên trong gần đuôi lôn màu xanh, mống mắt màu vàng, chân móng vuốt đen.

    Đây là một loài chim thuộc gia đình họ vẹt, bộ lông của chúng nhiều màu sắc chủ yếu là màu đỏ tươi bên cạnh đó là một số lông vũ màu xanh, trên cánh có màu vàng, đuôi dài mà xanh dương và da cam. Thức ăn của chúng chủ yếu là các loại hạt, trái cây và mật hoa.

    Nơi cư trú: Vùng nhiệt đới Nam Mỹ, nhiều nhất ở Braxin và Peru.

    Công (Pavo)

    Công hay là một loài chim thuộc họ Trĩ được Linnaeus mô tả khoa học lần đầu năm 1766. Chim công sinh sống ở rừng nhiệt đới Đông Nam Á và phía nam Trung Quốc. Nó có mối quan hệ gần gũi với Pavo cristatus ở lục địa Ấn Độ. Công đã từng phân bố rộng rãi ở Đông Nam Á từ phía đông và đông bắc Ấn Độ, Bắc Myanma và miền nam Trung Quốc, mở rộng thông qua Lào, và Thái Lan vào Việt Nam, Campuchia, bán đảo Mã Lai và các đảo Java. Loài này được tìm thấy trong một loạt các môi trường sống bao gồm cả rừng nguyên sinh và thứ cấp, cả hai vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, cũng như thường xanh và rụng lá. Họ cũng có thể được tìm thấy trong các khu vực có cây tre, đồng cỏ, thảo nguyên, cây bụi và cạnh đất nông nghiệp.

    Con đực có bộ lông có màu xanh lục óng ánh, đuôi rất dài, có màu lục ánh đồng, mỗi lông ở mút có sao màu lục xanh, đỏ đồng, vàng, nâu. Mào dài, hẹp thẳng đứng, phần mặt của nó có màu vàng và xanh, khi nó múa đuôi xòe ra hình nan quạt để thu hút chim cái. Con cái gần giống con đực nhưng không có mào đầu, không có lông trang hoàng. Lông đuôi con cái thường ngắn và có viền nâu. Mắt nâu thẫm, mỏ xám sừng, chân xám.

    Nơi cư trú: Châu Á đặc biệt là khu vực Đông Nam Á.

    Tổng hợp bởi: Top Vozz

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Xe Đạp Bằng Dây Thép
  • Công Thức Làm Cám Cho Chim Chào Mào
  • Phát Hiện Mới Về Chuyện Thỏ Và Rùa
  • Cách Chăm Sóc Chim Chào Mào Thay Lông
  • Bà Bầu Ăn Mực Có Sao Không?
  • Chim Ưng Thần, Đọc Bài Chim Ưng Thần Mới Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Chim Sẻ Hót Có Hay Không, Giá Bao Nhiêu, Mua Ở Đâu
  • Mông Cổ Mươi Điều… (Phần 4).
  • Tác Dụng Phong Thủy Của Vòng Đá Mắt Hổ Chim Ưng Xanh
  • Thấu Thị Tà Y Chương 590: Khách Không Mời Mà Đến
  • Chim Ưng Bơ Đậu Phộng
  • Một bác nông dân có ba con trai cũng được tin ấy. Bác liền bảo người con đầu:

    – Con hãy lên buồng kho, lấy một giỏ đầy táo ngon đỏ ối mà mang đến triều đình. Có thể công chúa ăn táo và khỏi bệnh, con được lấy nàng rồi lên ngôi vua.

    Chàng trai làm như vậy và lên đường ra đi.

    Chàng đi được vài giờ thì gặp một người nhỏ bé, tóc hoa râm, hỏi chàng mang gì trong giỏ. Chàng Unrich – tên chàng là Unrich – đáp:

    – Tôi mang chân ếch.

    Người nhỏ bé liền bảo:

    – Ừ được, cứ như thế!

    Rồi Unrich lại đi, đi mãi đến cung điện, báo là chàng mang táo đến, công chúa ăn vào sẽ khỏi bệnh. Vua nghe nói mừng lắm, cho đòi Unrich vào. Nhưng trời ơi! chàng mở giỏ ra thì chẳng thấy táo mà chỉ thấy chân ếch hãy còn ngọ ngoậy. Vua nổi giận đuổi chàng về. Chàng về nhà kể lại cho bố nghe đầu đuôi câu chuyện. Bố liền sai con thứ hai tên là Damuen đi, nhưng sự việc xảy ra cũng đúng như với Unrich. Chàng cũng lại gặp một người nhỏ bé, tóc hoa râm, hỏi chàng mang gì trong giỏ, Damuen đáp:

    – Tôi mang lông lợn.

    Người nhỏ bé tóc hoa râm đáp:

    – Ừ được, cứ như thế!

    Chàng đến cung điện, bảo là chàng mang táo đến, công chúa ăn vào sẽ khỏi bệnh. Người ta không để chàng vào và bảo là đã có một tên vào đây giễu cợt họ. Damuen kêu nài mãi, quả quyết là mình có thứ táo ấy, phải để cho chàng vào. Sau cùng người ta cũng tin chàng, dẫn chàng vào chầu vua. Nhưng khi chàng mở giỏ ra thì chỉ có lông lợn. Vua tức giận vô cùng, sai đuổi Damuen ra. Chàng về nhà kể lại cho bố nghe đầu đuôi câu chuyện. Người con út ở nhà chỉ gọi là thằng Ngốc Hanxơ liền hỏi bố là mình mang táo đi có được không. Bố bảo:

    – Ừ, thứ mày mới thật là đúng nhỉ! Đến mấy đứa tinh khôn còn chẳng làm nên trò trống gì thì mày làm gì được?

    Người con út không chịu nói:

    – Ấy bố ơi! Con cũng muốn đi!

    Người bố liền bảo:

    – Cút đi, mày phải đợi đến lúc nào tinh khôn hơn đã.

    Rồi bác quay lưng đi. Nhưng người con kéo áo bố nói:

    – Ấy bố ơi! Con cũng muốn đi!

    Người bố đáp bằng một giọng cáu kỉnh:

    – Ừ, thôi được, mày đi đi, chắc là mày lại trở về mà thôi.

    Cậu út mừng quá, nhảy lên. Bố lại bảo:

    – Chà, mày như thằng điên, mỗi ngày một ngốc thêm.

    Hanxơ cũng chẳng động lòng, vẫn mừng mừng rỡ.

    Lúc ấy trời đã tối, chàng nghĩ bụng đợi đến sáng mai, không đến cung điện ngay hôm nay. Đến đêm chàng nằm trên giường không ngủ được. Tuy không ngủ được ngay, chàng cũng mơ tới cô thiếu nữ xinh đẹp, nhưng tòa lâu đài, vàng bạc và nhiều thứ khác nữa.

    Sáng hôm sau, chàng lên đường và gặp ngay người bé nhỏ, lẻo khoẻo, mặc quần áo xám trắng, hỏi chàng mang gì trong giỏ. Hanxơ đáp là chàng có táo, công chúa ăn vào sẽ khỏi. Người nhỏ bé liền đáp:

    – Ừ, cứ như thế!

    Nhưng ở cung điện người ta nhất định không cho Hanxơ vào vì đã có hai tên đến xưng là mang táo lại thì một đứa mang chân ếch, còn một đứa mang lông lợn. Nhưng Hanxơ van xin mãi, nói là quả thật chàng không mang đến chân ếch, mà mang đến táo ngon nhất nước. Chàng ăn nói đứng đắn, lính cánh cổng cho là chàng không nói dối, bèn để cho chàng vào. Mà họ làm vậy là đúng, vì khi chàng mở giỏ trước mặt vua thì táo vàng hiện ra. Vua mừng rỡ, cho mang đến công chúa ngay và đợi người đến báo tin kết quả ra sao. Chỉ một lát sau, có người mang tin lại. Nhưng kìa, ai kia kìa? Chính là công chúa. Nàng vừa ăn táo thì khỏi bệnh liền, nhảy ở giường xuống. Không ai tả được hết nỗi vui mừng của nhà vua.

    Nhưng giờ vua lại không muốn gả công chúa cho Hanxơ. Vua bảo chàng trước hết phải đóng một chiếc thuyền, đi trên cạn nhanh hơn cả đi dưới nước. Hanxơ nhận điều kiện ấy, về nhà kể lại sự việc xảy ra. Bố liền bảo Unrich vào rừng đóng một chiếc thuyền như vậy. Chàng làm việc rất cần cù, vừa làm vừa huýt sáo. Đến giữa trưa, trời đứng bóng, có một người bé nhỏ tóc hoa râm đến hỏi chàng làm gì. Unrich đáp:

    – Tôi làm bay thợ nề.

    Người bé nhỏ tóc hoa râm bảo:

    – Ừ được, cứ như thế!

    Đến tối, Unrich tưởng là mình đã đóng xong chiếc thuyền nào ngờ lúc ngồi vào chỉ toàn bay thợ nề. Hôm sau Damuen vào rừng. Nhưng sự việc xảy ra cũng y như đối với Unrich.

    Đến ngày thứ ba, chàng Ngốc Hanxơ đi vào rừng. Chàng làm thật chăm chỉ, cả khu rừng vang tiếng đập chan chát, chàng vừa làm vừa hát và huýt sáo vui vẻ. Đến giữa trưa, lúc trời nóng bức nhất, người nhỏ bé lại đến hỏi chàng làm gì. Chàng đáp là chàng đang đóng một chiếc thuyền đi trên cạn nhanh hơn cả đi dưới nước, làm xong sẽ cưới công chúa làm vợ. Người nhỏ bé bảo:

    – Ừ, cứ như thế!

    Chiều tối, khi mặt trời lặn, chàng Hanxơ đã làm xong chiếc thuyền, mái chèo và các bộ phận khác. Chàng ngồi vào thuyền chèo đến kinh thành. Chiếc thuyền đi nhanh như gió.

    Vua thấy chiếc thuyền từ đằng xa, nhưng vẫn không muốn gả con gái cho Hanxơ. Vua lại bảo chàng phải chăn một trăm con thỏ từ sớm tinh mơ đến tối mịt, nếu có một con trốn thì không được lấy công chúa. Chú Hanxơ vui lòng nhận lời và ngay hôm sau, cùng cả đàn thỏ vào bãi hoang. Chàng chăm chú canh không để con nào trốn cả.

    Một vài giờ trôi qua, một con hầu ở cung điện đến bảo chàng Hanxơ phải đưa ngay một con thỏ vì có khách. Chàng Hanxơ nhận ngay ra mưu kế, chàng từ chối không chịu đưa thỏ, bảo là vua có thể đợi đến mai hãy mời khách món thỏ hồ tiêu. Con hầu không chịu thôi, quay ra khóc lóc. Chàng Hanxơ liền bảo là nếu công chúa thân chinh lại, chàng sẽ đưa cho một con thỏ. Con hầu về cung điện báo, công chúa thân chinh lại.

    Trong khi ấy người bé nhỏ lại đến gặp Hanxơ, hỏi chàng đang làm gì. Chàng đáp là chàng đang phải chăn một trăm con thỏ, không để con nào trốn mất, làm được sẽ lấy công chúa và làm vua. Người bé nhỏ bảo:

    – Được! Đây có cái còi, có con nào chạy trốn, cứ thổi còi thì nó lộn lại.

    Khi công chúa đến, Hanxơ đặt một con thỏ vào tạp dề của nàng. Vua ngạc nhiên khi thấy Hanxơ đã chăn nổi một trăm con thỏ, không con nào trốn khỏi. Nhưng vua nhất định không chịu gả con gái cho Hanxơ, bắt chàng phải mang đến dâng vua một cái lông đuôi chim ưng thần đao.

    Chú Hanxơ lên đường rảo bước. Đến tối, chàng đến một tòa lâu đài. Chàng xin ngủ lại, vì thời

    ấy chưa có quán trọ. Ông chủ lâu đài vui vẻ nhận lời và hỏi chàng đi đâu. Chàng Hanxơ đáp:

    – Tôi đến chỗ chim ưng thần.

    Chàng Hanxơ đáp:

    – Được, chắc chắn tôi sẽ làm.

    Sáng hôm sau, chàng lại lên đường đi tới một tòa lâu đài khác, chàng ngủ lại ở đấy. Khi người ở lâu đài biết là chàng định đi đến chỗ chim ưng thần, họ nói là có cô con gái bị bệnh, chữa đủ mọi cách mà không khỏi, họ nhờ chàng làm ơn hỏi hộ chim ưng xem phải làm gì để chữa cô khỏi. Chú Hanxơ nhận làm việc ấy rồi lại lên đường đi.

    Chàng đi tới một con sông, không có đò ngang chỉ có một người to lớn chuyển mọi người qua. Người ấy hỏi Hanxơ đi đâu, chàng đáp:

    – Đến chỗ chim ưng thần.

    Hắn dặn:

    – Nếu chàng có gặp chim, nhờ hỏi hộ tôi tại sao tôi cứ phải chuyển tất cả mọi người qua sông.

    Chàng Hanxơ đáp:

    – Chà được thôi. Tôi nhất định phải làm.

    Hắn đặt chàng lên vai đưa chàng qua.

    Chàng Hanxơ đi mãi đến nhà chim ưng thần, nhưng nó đi vắng, chỉ có vợ ở nhà. Vợ chim hỏi chàng muốn gì. Chàng kể lại hết đầu đuôi: Chàng muốn có một chiếc lông đuôi chim ưng thần; ở lâu đài nọ, người ta đánh mất chiếc chìa khóa hộp tiền mới, chàng định hỏi chim ưng thần chìa khóa ở đâu, ở lâu đài khác, có cô gái bị bệnh, chàng muốn biết cái gì chữa cô khỏi được; gần đó, có con sông và một người phải đưa người qua, chàng cũng muốn biết tại sao hắn phải đưa mọi người sang.

    Vợ chim ưng thần bảo:

    – Này, anh bạn ơi, không ai nói chuyện với chim ưng thần được đâu. Nó ăn thịt tất cả mọi người. Nhưng nếu anh muốn thì anh cứ chui vào nằm dưới giường nó. Đến đêm khi nó ngủ say, anh có thể vươn tay ra mà giật lấy chiếc lông đuôi. Còn những điều anh muốn biết thì để tôi sẽ hỏi cho.

    Chàng Hanxơ đồng ý, chui vào nằm dưới giường. Đến tối, chim ưng thần về. Nó vào đến buồng thì bảo vợ ngay:

    – Mình này, ta ngửi thấy mùi thịt người.

    Vợ đáp:

    – Đúng đấy. Hôm nay có một người đến, nhưng nó đi rồi.

    Rồi vợ chim ưng thần không nói gì nữa.

    Giữa đêm, chim ưng thần đang ngáy o o thì chàng Hanxơ đưa tay ra giật một chiếc lông đuôi. Chim ưng thần giật mình bảo:

    – Mình này, ta ngửi thấy mùi thịt người. Mà hình như có kẻ giật lông đuôi ta.

    Vợ chim ưng liền bảo:

    – Đúng là mình mê ngủ rồi. Tôi đã bảo mình là hôm nay có một người đến, nhưng nó đi rồi. Thôi thì hắn kể đủ thứ. Nào là một tòa lâu đài nọ, người ta đánh mất hộp tiền mới, không tìm thấy nữa.

    Chim ưng thần nói:

    – Thật là đồ ngu. Chìa khóa ở trong cái nhà kho để củi, dưới một đống củi sau cửa ấy.

    – Hắn lại còn bảo là ở lâu đài khác, có đứa con gái bị bệnh, không biết cách nào chữa được.

    Chim ưng thần nói:

    – Thật là ngu. Dưới cầu thang trong hầm có một con cóc lấy tóc của cô ấy làm tổ. Nếu cô ấy lấy lại được tóc thì khỏi bệnh.

    – Rồi hắn lại bảo là ở một nơi có con sông, và một người phải mang tất cả mọi người qua.

    Chim ưng thần nói:

    – Chà, thằng ngu! Hắn chỉ việc đặt một người xuống giữa dòng thì tự khắc không phải mang ai qua nữa.

    Sáng sớm, chim ưng thần lại ra đi. Chàng Hanxơ chui ở gầm giường ra, cầm một chiếc lông đẹp. Chàng lại nghe thấy hết cả mọi điều chim nói về chiếc chìa khóa, cô con gái và người đàn ông. Vợ chim ưng thần kể lại tất cả cho chàng nghe lần nữa để chàng khỏi quên.

    Sau đó, chàng lên đường về nhà. Trước tiên, chàng đến chỗ người ở bên sông. Hắn hỏi ngay chàng chim bảo gì. Chàng bảo hắn mang chàng qua đã rồi sẽ nói. Hắn mang chàng qua sông. Chàng liền bảo hắn chỉ việc đặt một người xuống giữa dòng, thì tự khắc không còn phải mang ai qua nữa. Hắn mừng rỡ lắm, bảo Hanxơ muốn mang chàng qua sông rồi lại mang về để tỏ lòng biết ơn. Chàng từ chối, bảo là không muốn phiền hắn, chàng đã hài lòng rồi.

    Rồi chàng lại đi.

    Chàng đi đến lâu đài có cô con gái ốm. Chàng cõng cô trên vai, vì cô không đi được, và mang cô xuống cầu thang dưới hầm. Chàng lấy cái tổ cóc ở dưới bậc cuối đặt vào tay cô; cô nhảy từ trên vai chàng xuống, chạy lên thang trước chàng và khỏi hẳn. Bố mẹ cô mừng lắm, cho chàng Hanxơ vàng bạc, chàng muốn gì cho nấy.

    Đến lâu đài sau, chàng đi ngay vào nhà kho để củi, tìm thấy dưới đống củi sau cửa đúng ngay chiếc chìa khóa vàng và mang lên cho chúa lâu đài. Ông ta mừng rỡ vô cùng, thưởng cho Hanxơ nhiều vàng trong hộp, lại cho thêm đủ thứ, như bò sữa, cừu, dê.

    Chàng Hanxơ đến chỗ nhà vua với tất cả những thứ ấy nào là tiền, là vàng, là bạc, nào là bò, là cừu, là dê. Vua hỏi chàng lấy ở đâu ra tất cả của cải ấy. Chàng cho biết là chim ưng thần bảo ai muốn lấy bao nhiêu cũng cho. Vua nghĩ bụng, mình cũng cần đến, bèn lên đường đi đến chỗ chim ưng thần. Nhưng khi vừa đến bến sông, thì vua đúng là người đầu tiên đến từ khi Hanxơ đi qua. Người ấy đặt vua xuống giữa dòng rồi đi mất. Vua bị chết đuối.

    Chàng Hanxơ cưới công chúa và lên ngôi vua.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ông Chủ Giàu Có Định Cho Lái Xe 1 Tỷ Đồng Nhưng Bị Từ Chối, Câu Trả Lời Khiến Ông Thật Bất Ngờ…
  • Chim Ưng Peregrine Chim Ưng
  • Chim Ưng Sống Trong Chuồng Gà Sẽ Mất Đi Bản Lĩnh Bay Cao; Sói Sống Lẫn Với Cừu Sẽ Mất Đi Bản Năng Bá Chủ: Bạn Là Ai Không Quan Trọng Bằng Việc Bạn Ở Cùng Ai!
  • Vì Sao Tôi Chọn Hình Tượng Cụ Trần Khánh Dư Là Chim Ưng
  • Cách Phân Biệt Chim Ưng Và Đại Bàng Chính Xác Nhất
  • Bí Mật Bất Ngờ Biến Chim Ưng Thành Loài Săn Mồi ‘đỉnh’ Nhất Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Vòng Đá Mắt Chim Ưng Xanh Đen
  • Gigabyte Aorus Geforce Rtx 2080 Ti Xtreme
  • Loài Vật Có Thể Nhịn Ăn Bao Lâu?
  • 10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao
  • Hiệu Ứng Chim Ruồi: Khi Thế Giới Của Chúng Ta Kết Nối Hơn Những Gì Bạn Tưởng Tượng
  • Tự cổ chí kim, ai cũng biết chim ưng là những kẻ săn mồi thượng thừa. Chúng có khả năng lượn từ những góc cao nhất lao xuống với tốc độ cực nhanh, và chớp mắt đã thấy con chuột nằm gọn trong móng vuốt.

    Bí mật cho khả năng săn mồi đỉnh cao của chim ưng là gì?

    Khả năng săn mồi đỉnh cao ấy một phần là nhờ cặp mắt tinh tường, cho phép chúng quan sát mọi thứ từ khoảng cách rất xa.

    Nhưng theo nghiên cứu mới đây từ ĐH Lund (Thụy Điển) thì đó không phải là tất cả. Còn một bí mật khác trong cặp mắt của chim ưng mà từ trước đến nay chúng ta không hề biết đến, đó là khả năng cảm nhận màu !

    Cụ thể, các chuyên gia xác nhận rằng chim ưng – chính xác hơn là chim ưng Harris – đang sở hữu một cặp mắt với khả năng cảm nhận màu tốt nhất trong thế giới động vật. Thậm chí, còn tuyệt vời hơn cả con người. Và họ tin rằng chính cặp mắt ấy đã giúp chúng định vị, theo dõi và bắt được mồi.

    “Tôi đã không nghĩ rằng khả năng cảm nhận màu lại quan trọng đến thế. Trước đó, ai cũng cho rằng chim ưng có tầm nhìn tốt hơn, nhìn được xa hơn và như vậy là đủ” – trích lời Almut Kelber, chuyên gia sinh học từ ĐH Lund.

    Thông thường, kích cỡ của đôi mắt có thể quyết định tầm nhìn, độ “nét” của hình ảnh, và giúp cho con người và động vật cảm nhận hình ảnh. Mắt càng to, hình ảnh càng nét hơn. Đồng thời, kích cỡ của mắt cũng tỷ lệ thuận với độ lớn cơ thể. Cơ thể càng bự, mắt cũng càng to.

    Nhưng đôi khi cũng có ngoại lệ, và loài chim ưng Harris (Parabuteo unicinctus) là một trong số đó.

    Theo các chuyên gia, khi quan sát một vật có màu khác với nền xung quanh, chim ưng Harris có thể xác định rõ vật đó ở khoảng cách xa gấp 2 lần so với thị lực con người.

    “Thật đáng kinh ngạc. Con chim chỉ nặng chưa đầy 1kg, lại có mắt nhỏ. Nhưng tầm nhìn và khả năng cảm nhận hình ảnh thì khủng khiếp hơn con người rất nhiều, ngay cả khi con mồi của chúng nhỏ” – Simon Potier, chuyên gia trong nhóm nghiên cứu chia sẻ.

    Khả năng cảm nhận màu được đánh giá là rất quan trọng, vì môi trường săn bắt của chim ưng là những khu rừng , nơi con mồi có được nơi lẩn trốn hết sức tuyệt vời.

    Bản thân phát hiện này cũng rất quan trọng trong công tác bảo tồn. Trên thực tế, một trong những lý do khiến chim ưng ngày càng sụt giảm số lượng là vì chúng va vào các công trình của con người – như turbine gió và dây điện cao thế.

    “Khi xác định được cách chim ưng cảm nhận thế giới xung quanh, chúng ta có thể hạn chế được điều đó” – Potier cho biết thêm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Tnhh Giao Nhận Chim Ưng Vàng
  • Đại Bàng Săn Mồi Như Thế Nào? Mua Ở Đâu? Giá Bao Nhiêu Tiền?
  • Bài Học Từ Chuyện Của Đại Bàng Và Gà: Muốn Thành Công Trước Hết Phải Vượt Qua Được Giới Hạn Của Bản Thân
  • Trực Bá Chi Thú Liệp Hoang Dã Chương 36: Giá Trên Trời Chim Ưng Saker
  • Trực Bá Chi Thú Liệp Hoang Dã
  • Bí Mật Bất Ngờ Biến Chim Ưng Thành Loài Săn Mồi “đỉnh” Nhất Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Chế Ngự “chim Ưng” Hayabusa Trên Đường Phố Hà Nội
  • Chim Ưng Hình Nền Sống Cho Android
  • Tải Chim Ưng Hình Nền Động Cho Máy Tính Pc Windows Phiên Bản
  • Quyển 3 Chương 168: Gặp Lại Chim Ưng Hai Đầu
  • Đọc Truyện: Đại Tiên Quan
  • Tự cổ chí kim, ai cũng biết chim ưng là những kẻ săn mồi thượng thừa. Chúng có khả năng lượn từ những góc cao nhất lao xuống với tốc độ cực nhanh, và chớp mắt đã thấy con chuột nằm gọn trong móng vuốt.

    Khả năng săn mồi đỉnh cao ấy một phần là nhờ cặp mắt tinh tường, cho phép chúng quan sát mọi thứ từ khoảng cách rất xa.

    Chim ứng Harris sở hữu một cặp mắt với khả năng cảm nhận màu tốt nhất trong thế giới động vật.

    Nhưng theo nghiên cứu mới đây từ ĐH Lund (Thụy Điển) thì đó không phải là tất cả. Còn một bí mật khác trong cặp mắt của chim ưng mà từ trước đến nay chúng ta không hề biết đến, đó là khả năng cảm nhận màu!

    Cụ thể, các chuyên gia xác nhận rằng chim ưng – chính xác hơn là chim ưng Harris – đang sở hữu một cặp mắt với khả năng cảm nhận màu tốt nhất trong thế giới động vật. Thậm chí, còn tuyệt vời hơn cả con người. Và họ tin rằng chính cặp mắt ấy đã giúp chúng định vị, theo dõi và bắt được mồi.

    “Tôi đã không nghĩ rằng khả năng cảm nhận màu lại quan trọng đến thế. Trước đó, ai cũng cho rằng chim ưng có tầm nhìn tốt hơn, nhìn được xa hơn và như vậy là đủ” – trích lời Almut Kelber, chuyên gia sinh học từ ĐH Lund.

    Thông thường, kích cỡ của đôi mắt có thể quyết định tầm nhìn, độ “nét” của hình ảnh, và giúp cho con người và động vật cảm nhận hình ảnh. Mắt càng to, hình ảnh càng nét hơn. Đồng thời, kích cỡ của mắt cũng tỷ lệ thuận với độ lớn cơ thể. Cơ thể càng bự, mắt cũng càng to.

    Nhưng đôi khi cũng có ngoại lệ, và loài chim ưng Harris (Parabuteo unicinctus) là một trong số đó.

    Khả năng cảm nhận màu sắc của loài chim ưng này là rất tuyệt vời, tuyệt nhất trong số các loài động vật trên thế giới

    Theo các chuyên gia, khi quan sát một vật có màu khác với nền xung quanh, chim ưng Harris có thể xác định rõ vật đó ở khoảng cách xa gấp 2 lần so với thị lực con người.

    “Thật đáng kinh ngạc. Con chim chỉ nặng chưa đầy 1kg, lại có mắt nhỏ. Nhưng tầm nhìn và khả năng cảm nhận hình ảnh thì khủng khiếp hơn con người rất nhiều, ngay cả khi con mồi của chúng nhỏ” – Simon Potier, chuyên gia trong nhóm nghiên cứu chia sẻ.

    Khả năng cảm nhận màu được đánh giá là rất quan trọng, vì môi trường săn bắt của chim ưng là những khu rừng, nơi con mồi có được nơi lẩn trốn hết sức tuyệt vời.

    Bản thân phát hiện này cũng rất quan trọng trong công tác bảo tồn. Trên thực tế, một trong những lý do khiến chim ưng ngày càng sụt giảm số lượng là vì chúng va vào các công trình của con người – như turbine gió và dây điện cao thế.

    “Khi xác định được cách chim ưng cảm nhận thế giới xung quanh, chúng ta có thể hạn chế được điều đó” – Potier cho biết thêm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Huấn Luyện Chim Ưng (Phần 2)
  • Đọc Truyện Mạc Thanh Ca Đại Giá Cuồng Phi
  • ‘kẻ Săn Mồi’ Đỉnh Nhất Bầu Trời Đã Lộ Diện: 75% Diều Hâu, Chim Cắt Và Chim Ưng Đã Phải Bỏ Mạng Vì Thứ Này
  • Kim Thiên Khởi Tố Cương Thiết Mãnh Nam
  • Quy Định Hàng Không Về Hành Lý Xách Tay Và Sáng Tạo “con Voi Chui Lọt Lỗ Kim”
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100