Top 14 # Xem Nhiều Nhất Sự Khác Biệt Giữa Chim Ưng Và Đại Bàng / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Lamdeppanasonic.com

Sự Khác Biệt Giữa Đại Bàng Và Chim Ưng Là Gì? / 2023

Đại bàng và diều hâu là hai trong số những loài chim săn mồi nổi tiếng nhất và cả hai đều sống ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Thuật ngữ chim ưng bao gồm nhiều loại chim săn mồi và một số loài chim ưng phổ biến bao gồm diều hâu sắc nhọn, goshawks và chim sẻ. Ở Bắc và Nam Mỹ, thuật ngữ chim ưng cũng được áp dụng cho một số loài chim được gọi là voọc trên các lục địa khác. Thuật ngữ đại bàng, mặt khác, đề cập đến một số loài chim săn mồi, một số trong đó không có mối quan hệ di truyền chặt chẽ. Hầu hết các loài đại bàng có thể được phát hiện ở Châu Phi, Châu Âu và Châu Á. Chỉ có hai, Bắc Mỹ có số lượng loài đại bàng nhỏ nhất. Diều hâu và đại bàng là hai trong số những loài chim thường bị nhầm lẫn nhất do có nhiều điểm tương đồng. Tuy nhiên, hai con chim cũng có nhiều đặc điểm khác biệt giúp phân biệt chúng.

Sự khác biệt giữa Hawks và Eagles

Kích thước

Một sự khác biệt đáng kể giữa đại bàng và diều hâu là kích thước. Các nhà nghiên cứu về loài chim ưng coi đại bàng lớn hơn đáng kể so với hầu hết các loài chim săn mồi khác. Một trong những loài đại bàng lớn nhất là đại bàng vàng, có thể nặng tới 13, 7 pound. So sánh, một trong những loài diều hâu lớn nhất là diều hâu ferruginous, thường có trọng lượng tối đa 4 pound. Các nhà nghiên cứu về loài chim tin rằng kích thước lớn của đại bàng là một sự thích nghi tiến hóa để cho phép nó tồn tại ở một số khu vực trên thế giới. Mặt khác, kích thước nhỏ hơn của diều hâu được cho là một sự thích nghi để cho phép diều hâu di chuyển nhanh hơn.

Sức mạnh

Hầu hết các nhà nghiên cứu chim ưng đồng ý rằng đại bàng mạnh hơn diều hâu, chủ yếu là do kích thước lớn hơn của chúng. Sức mạnh của đại bàng có thể được quy cho một số đặc điểm như móng vuốt mạnh mẽ và đôi chân cơ bắp. Trong khi diều hâu cũng là loài chim mạnh mẽ, sức mạnh của chúng ít hơn so với đại bàng. Mặc dù yếu hơn đại bàng, diều hâu có báng cầm chắc chắn rất quan trọng cho việc săn bắn.

Con mồi

Một yếu tố khác để phân biệt diều hâu với đại bàng là loại con mồi chúng săn. Do kích thước và sức mạnh lớn hơn, đại bàng săn con mồi lớn hơn nhiều. Diều hâu, chẳng hạn như chim ưng của Cooper, đã được quan sát thấy con mồi trên các loài chim nhỏ hơn như người Mỹ, chim sáo đá châu Âu, chim bồ câu và chim giẻ cùi. Ngoài những con chim nhỏ, diều hâu cũng ăn những con chuột đồng, chuột, chuột và sóc. Đại bàng, mặt khác, ăn nhiều loại con mồi như chim nước, xạ hương và rùa. Theo các nhà nghiên cứu từ Viện Smithsonian, đại bàng, đặc biệt là đại bàng vàng, cũng có thể ăn hươu. Cả diều hâu và đại bàng đã được biết đến để ăn cá.

Cánh

Một đặc điểm khác để phân biệt đại bàng với diều hâu là đại bàng thường có sải cánh lớn hơn nhiều. Đại bàng có sải cánh dài nhất được ghi nhận là đại bàng đuôi nêm, có sải cánh dài khoảng 9 feet 4 inch. Mặt khác, diều hâu có sải cánh dài nhất là diều hâu ferruginous, có sải cánh dài khoảng 4 feet 8 inch.

Ảnh hưởng của ô nhiễm đến Hawks và Eagles

Do vị trí của chúng trong chuỗi thức ăn, diều hâu và đại bàng bị ảnh hưởng đáng kể bởi các chất ô nhiễm làm ô nhiễm nguồn thực phẩm của chúng. Vào năm 2015, các nhà nghiên cứu từ Đại học McGill của Canada đã tìm thấy một con diều hâu của Cooper với hàm lượng diphenyl ether rất cao trong gan, có thể là kết quả của việc ăn những con sao biển bị ô nhiễm.

Chim Ưng Và Chim Cắt, So Sánh Sự Khác Biệt / 2023

Chim cắt (Falconidae) và chim ưng (Accipitridae) là tên gọi chung cho rất nhiều loài chim săn mồi. Đối với nhiều người, chim ưng và chim cắt thường được xem là hai loài chim săn mồi giống nhau, nhưng thật ra chúng rất khác nhau ở nhiều điểm. Chim cắt nằm trong họ cắt (bao gồm chim cắt và caracara), họ chim ưng lại thuộc chủng chim khác (bao gồm chim ưng, diều hâu, đại bàng, kền kền…)

Chim cắt được biết đến với cách thức tấn công con mồi chủ yếu bằng mỏ, còn chim ưng tấn công bằng hai chân để hạ gục con mồi. Để phân biệt rõ hai loài chim này, chúng ta cần phải hiểu rõ các đặc tính cụ thể giữa hai loài này. Sau khi đọc bài viết có thể bạn sẽ phân biệt chim ưng và chim cắt dễ dàng hơn.

Các đặc điểm của chim Cắt

Chim cắt thuộc họ cắt, chúng được biết đến với tốc độ bay nhanh đáng kinh ngạc ở tuổi trưởng thành. Chim cắt dùng mỏ để tấn công con mồi.

Chim cắt là loài chim săn mồi rất phổ biến, chúng có mặt ở khắp nơi trên thế giới ngoại trừ châu Nam Cực.

Chim cắt có thể thích nghi với nhiều điều kiện sống, vì thế ngày nay chúng ta có thể tìm thấy chúng ở mọi loại sinh cảnh sống khác nhau. Từ sa mạc, đến bắc cực, đồng cỏ, ngoại ô thành phố… đều có sự hiện diện của chim cắt.

Có tất cả hơn 40 loài chim cắt trên thế giới.

Tuổi thọ của chim cắt từ 12-20 năm, ở một số điều kiện sống nhất định chúng có thể sống tới 25 năm tuổi.

Loài chim cắt lớn nhất là chim cắt Bắc Cực Gryfalcon , chiều dài cơ thể khoảng 50-63cm, cân nặng từ 0,9-2 kg.

Chim cắt là loài ăn thịt trong tự nhiên, thức ăn chính của chúng là chuột, chim, cá và các loài côn trùng.

Chim cắt có sải cánh dài, đuôi ngắn vừa, màu lông của các loài chim cắt đa số là nâu tối, một số có màu xám.

Chúng đi săn dựa vào ánh sáng mặt trời, vì vậy chúng được xếp vào các loài chim chỉ hoạt động ban ngày.

Chim cắt được biết đến với thị lực cực kỳ tốt, khả năng nhìn xa của chúng gấp 8 lần mắt của con người.

Tốc độ bay của chim cắt là cực kỳ nhanh. Chim cắt lớn (peregrine falcon) có thể bay với tốc độ 320km/h. Trong một số điều kiện thuận lợi, tốc độ chim cắt được ghi nhận lên tới 389 km/h.

Chim cắt mái thường có kích thước to lớn hơn chim trống, chúng sẽ cùng nhau chăm sóc chim non sau khi sinh sản.

Các đặc điểm của chim Ưng

Trái ngược với chim cắt, chim ưng lại nằm trong nhiều chủng loài khác nhau. Chim ưng là một chi chim lớn nhất và cũng phổ biến nhất trên thế giới. Trí thông minh của chim ưng cũng được nhìn nhận là hơn chim cắt, chúng thường có chiến thuật tấn công con mồi bất ngờ.

Cũng như chim cắt, chim ưng cũng là loài sinh sống phổ biến ở khắp nơi trên thế giới ngoại trừ Nam Cực.

Chim ưng có thể thích nghi với mọi điều kiện môi trường sống, mọi địa hình địa lý.

Có tới 270 loài chim ưng họ ưng ở trên thế giới.

Cũng giống chím cắt, các loài chim ưng có đa dạng kích thước và cân nặng.

Chim ưng mái nặng hơn chim trống.

Chim ưng dùng mỏ sắc nhọn để xé xác con mồi.

Chim ưng cũng là loài chim săn mồi vào ban ngày.

Chim ưng không có con mồi nào cụ thể là thức ăn chính, chúng săn rất nhiều loài khác nhau.

Chim ưng đực có thể nhào lộn trên không trung trên 10 phút, chúng nổi tiếng với những vũ điệu trên không.

Chúng là loài chim chỉ có một bạn đời duy nhất, cho đến khi con còn lại chết.

Chim ưng có tuổi thọ từ 13-20 năm, thậm chí 25 năm tuổi.

Bảng so sánh Chim Ưng và Chim Cắt

Tên loài

Cuộc đọ sức giữa chim ưng và chim cắt

Chim cắt và chim ưng có quá nhiều điểm tương đồng giữa hai loài, nhưng một vài đặc điểm có thể phân biệt được.

Chim ưng có chiếc mỏ cong suôn hơn, còn chim cắt có mỏ uốn bẻ góc, cả hai đều tận dụng lợi thế của chiếc mỏ để săn mồi.

Chim ưng có tốc độ săn mồi chậm hơn chim cắt, đổi lại chim ưng có lợi thế hơn về cân nặng. Khi thực chiến xảy ra, rất khó để đoán loài nào sẽ chiến thắng, cả hai đều là loài chim săn mồi rất ít khi sai lầm.

Chim ưng có thể săn mồi các loài động vật có vú, thậm chí chúng có thể tấn công được con người. Chim cắt có thể dùng tốc độ để xé toang vật cản trên đường bay.

Thật khó để tiên đoán kẻ nào sẽ chiến thắng nếu hai loài chim này lao vào choảng nhau. Bạn nghĩ sao?

Sự Khác Nhau Giữa Gà Trống Và Gà Mái 2022 / 2023

Ai có đam mê nuôi gà chọi hay gà đá,hẳn khi gà mới nở ra chúng ta đều muốn biết gà con là trống hay mái bởi thường thì chúng ta sẽ quan tâm tới gà con trống nhiều hơn ,lý do là vì chính chúng là những chiến kê trong tương lai.Vậy bài viết hôm nay mình xin chia sẻ cách nhận biết gà non là gà trống hay gà mái.

Dẫu trại gà lớn hay người nuôi bình thường, có lẽ tất cả chúng ta đều muốn biết gà con là trống hay mái. Hàng trăm năm qua, có nhiều phương pháp kể cả thủ công và khoa học hiện đại được áp dụng để xác định giới tính gà con vài ngày tuổi; một số vô tác dụng, một số rất hiệu quả.

Trước khi xem xét các phương pháp, bạn cần phải biết xác suất thành công của phương pháp xác định giới tính của gà mình đang sử dụng là bao nhiêu. Dưới điều kiện bình thường, một bầy gà thường có tỷ lệ 55% trống và 45% mái đây là kiến thức khoa học. Điều đó có nghĩa áp dụng phương pháp nào thì cơ hội thành công vẫn là 50% – dẫu phương pháp có sai đi nữa. Vì vậy, nếu bạn bắt một con gà và đoán “gà mái” thì vẫn có 50% khả năng đoán trúng. Với một phương pháp đáng tin cậy, cơ hội đoán trúng phải trên 50%.

Trứng đoán giới tính gà.

Nhiều người nghĩ rằng hình dạng trứng phần nào thể hiện giới tính của gà con. Theo trường phái này, trứng dài hay nhọn sẽ nở ra gà trống còn trứng tròn sẽ nở ra gà mái. Tôi đã nghiên cứu điều này nhiều năm trời (và có cả những nghiên cứu khoa học nữa), kết quả cho thấy phương pháp này hầu như vô dụng. Gà mái cũng nở từ những trái trứng đầu nhọn, gà trống cũng nở ra từ trứng tròn. Nếu phương pháp này hiệu quả thì ngành công nghiệp chăn nuôi gà có lẽ đã áp dụng nó thay vì bỏ tiền mướn chuyên gia tuyển gà.

Cuộc sống sẽ đơn giản hơn với người nuôi gà nếu chúng ta có thể xác định giới tính qua hình dạng trứng, nhưng chúng ta không thể.

Thời tiết dường như cũng ảnh hưởng đến sự thụ tinh và tỷ lệ trống-mái ở gia cầm. Hiện tượng này được nông dân quan sát trong nhiều thế kỷ. Ở động vật có vú, dường như có những điều kiện khiến sản sinh ra nhiều cá thể đực so với cá thể cái. Ở chim, nhiệt độ thân thể của gà mái dường như tác động, có lẽ đến giới tính của bầy con, nhưng chắc chắn tác động đến khả năng duy trì sự tồn tại của tinh trùng cho đến khi thụ tinh.

Cũng đáng để nghiên cứu thêm về nhiệt độ, nhưng đừng chờ đợi những kết quả đột biến.

Xem huyệt(hố có màu tối trong trứng )

Phương pháp xem huyệt (vent sexing) được người Nhật phát hiện từ năm 1920 như là hướng tiếp cận sáng tạo và đáng tin cậy trong việc xác định giới tính gà con vài ngày tuổi. Vào năm 1933, các giáo sư Masui và Hashimoto xuất bản cuốn “Xác định giới tính gà con” ở Anh. Năm 1934, tiến sĩ Kiyoshi Oxawa đi thăm Mỹ và truyền dạy phương pháp ở Queensland. Từ năm 1935 về sau, phương pháp này nhanh chóng được tiếp nhận bởi rất nhiều công ty gia cầm ở Bắc Mỹ. Đây là phương pháp xác định giới tính đáng tin cậy đầu tiên và được các trại áp dụng cho đến tận ngày nay.

Xem huyệt là quy trình giữ gà con vài ngày tuổi bằng một tay, vạch huyệt và quan sát bộ phận sinh dục để xác định giới tính dựa vào hình dạng. Lưu ý: có đến 18 loại hình dạng khác nhau với hai dạng của gà mái và hai dạng của gà trống mà chúng rất giống với giới tính đối lập. Về bản chất, hình dạng huyệt giống như một cái vòng cổ với những “hạt chuỗi” đủ mọi kích thước nhưng lớn nhất ở trung tâm. Gà trống có “hạt” trung tâm tròn/hình cầu; gà mái có “hạt” trung tâm bẹt hay lõm. Những chuyên gia giàu kinh nghiệm có thể đoán đúng tới 90%. Những báo cáo gần đây ghi nhận tỷ lệ chính xác đến 95%. Trong mọi trường hợp, phương pháp này đều rất hiệu quả nhưng đòi hỏi kỹ năng và huấn luyện.

Màu lông của gà non

Nhiều trường hợp màu lông tơ (down color) có thể tiết lộ giới tính của gà. Trong hàng trăm năm, có lẽ hàng ngàn năm, người nuôi gà với các màu lông hoang dã (điều, khét và chuối…) có khả năng phân biệt gà trống con với gà mái con nhờ lông tơ. Gà trống có đầu sạch với chỉ hai màu của sọc lưng, mà nó thường kết thúc trong một điểm trên đỉnh đầu; gà mái có đến ba màu của sọc lưng, ngoài hai màu còn có thêm màu đen hoặc đen nâu sẫm, và sọc thường chạy đến hay ngang qua đỉnh đầu.

Một vài giống gà thuần có thể xác định giới tính ngay sau khi nở bao gồm Plymouth Rock màu cú (barred) mà gà con màu đen với những đốm vàng hay trắng. Nghiên cứu trước đây chứng tỏ rằng có khác biệt nhỏ về lông tơ ở bên dưới và xung quanh cánh – gà trống có nhiều lông tơ hơn. Nhưng phương pháp tốt hơn cho thấy gà trống con thường có những đốm vàng trên đầu. Điều này đúng với các dòng cú (barred) hay cúc cu (cukcoo). Các giống New Hampshire và Buff Orpington tạo ra gà con màu da bò (buff). Nếu quan sát kỹ sẽ thấy gà trống con có những vạch trắng đứt quãng ở phía trên khớp vai, gà mái con thường có những đốm đen hay nâu trên đầu, hay thậm chí những sọc màu nâu mờ trên lưng. Tôi thấy điều này cũng đúng với giống gà Buckeye mặc dù chúng có nhiều lông tơ hơn.

Khi lai xa các biến thể hay giống gà với nhau, gà con có thể được xác định giới tính nhờ màu lông. Kiểu lai xa truyền thống là giữa màu vàng (gold) với màu trắng (silver) (theo di truyền về màu sắc, gien vàng tạo ra màu điều và gien trắng tạo ra màu nhạn). Ví dụ, gà trống vàng bao gồm Rhode Island Red, Buff Orpington, New Hampshire lai với gà mái trắng chẳng hạn Rhode Island nhạn, Plymouth Rock nhạn, Delaware, Light Sussex, Wyandotte nhạn. Gà trống con từ những bầy lai này sẽ có màu phớt trắng, xám hay nâu nhạt. Gà mái con sẽ có màu nâu hanh đỏ hay da bò. Người Hà Lan từng lai gà Campine trống vàng với gà Campine mái nhạn trong hàng thế kỷ để tạo ra gà con có thể nhận biết giới tính ở vài ngày tuổi dựa vào màu sắc.

Sử dụng gà trống màu hoang hay màu điều, chẳng hạn lơ-go khét, Dark Cornish, hay Old English Game điều lai với gà mái lông trắng sẽ cho ra gà trống con màu nhạt hơn, ngả xám đặc biệt ở sọc lưng, và gà mái con có sọc và vệt nâu. Khi gà trống không phải màu cú (non-barred), chẳng hạn màu đen, hay thậm chí một con Ancona hay Rhode Island Red thì gà con sẽ có màu ô hay nâu sẫm với một ít tông trắng trên lông tơ – nhưng gà trống con sẽ có một đốm trắng trên đỉnh đầu.

Ở bầy gà xuất phát từ lai xa liên kết giới tính (sexlink crossbreed) chúng ta thường có thể phân biệt gà trống với gà mái. Ở liên kết giới tính màu đen, gà mái màu đen và gà trống có một đốm trắng trên đỉnh đầu. Ở liên kết giới tính màu điều (chẳng hạn Golden Comet, ISA khét, Cinnamon Queen…) gà trống con thường màu trắng và gà mái thường màu điều hay da bò. Trong một số trường hợp, gà trống màu da bò và gà mái có thể được nhận biết bằng một đốm đen trên đỉnh đầu và có thể có một vài sọc đen và nâu trên lưng.

Vì vậy, nguyên tắc đơn giản nhất để phân biệt giới tính dựa vào màu lông đó là gà trống có đầu nhạt màu, đôi khi với một đốm trắng hay vàng, và gà mái màu sẫm hơn, thường có một đốm hay các sọc đen hoặc nâu trên đỉnh đầu hay những sọc sẫm trên lưng.

Xem lông cánh (feather sexing)

Người ta phát hiện thấy khi lai gà trống của giống gà mọc lông nhanh với gà mái của giống gà mọc lông chậm thì sẽ cho ra gà mái con phát triển lông cánh nhanh một cách đáng kể. Vào ngày thứ 10, gà trống con cũng sẽ ra lông đầy đủ vì vậy hãy kiểm tra sớm hơn. Ở một số dòng hay giống gà, gà trống và gà mái có thể được phân biệt giới tính bằng cách kiểm tra lông cánh ở vài ngày tuổi: gà trống sẽ có hàng lông mọc đều trong khi gà mái sẽ có lông dài, lông ngắn xen kẽ. Những con Buckeye của tôi mọc lông khá chậm trong khi lơ-go khét lại mọc rất nhanh, nhưng tôi không thấy có sự khác biệt gì giữa gà trống với gà mái con. Phương pháp này có tác dụng đối với một số dòng gà và cũng có thể có tác dụng đối với bạn.

Phương pháp khác

Thời gian là vấn đề lớn nhất trong việc xác định giới tính gà. Khi chúng ta mới bắt đầu nuôi gà, thật khó để phân biệt trống và mái. Nhưng khi có kinh nghiệm, chúng ta thường thấy sự khác biệt ở 3 hay 4 tuần tuổi. Vậy chúng ta đang tìm kiếm điều gì? Ở những giống gà lớn, gà trống có xu hướng mọc lông theo từng cụm trong khi gà mái mọc đều hơn. Gà trống thường phát triển mồng sớm hơn – gà trống được phân biệt sau 3-4 tuần ở những giống gà mồng lá; 6 tuần ở gà mồng trích. Ở những giống gà mà màu lông giữa gà trống và gà mái khác nhau, gà trống thể hiện “màu thực” ở khoảng 6 tuần tuổi. Ở 8 tuần tuổi, gà trống của hầu hết các giống gà bắt đầu phát triển lông bờm, lông mã và lông phụng dài; gà mái có lông tròn, rộng ở những khu vực tương tự. Gà lơ-go trống của tôi thậm chí bắt đầu gáy khi đạt từ 4-6 tuần tuổi!

Về hành vi, có những khác biệt mà chúng ta có thể quan sát thấy. Gà trống có xu hướng thích thể hiện so với gà mái. Khi gặp nguy hiểm, gà trống sẽ đứng thẳng và phát tiếng kêu cảnh báo trong khi gà mái thường co rúm lại và im lặng (ngoại trừ mấy con lơ-go của tôi…). Gà mái thường có xương mu (pubic) lớn hơn so với gà trống dẫu điều này chỉ chính xác tùy dòng gà và việc tuyển chọn để đẻ trứng. Gà trống cũng có xu hướng ngón chân phát triển to và giò dày hơn so với gà mái. Đây là đặc điểm mà tôi thấy ở giống gà Buckeye mới nở và ở giống gà lơ-go vài ngày tuổi của tôi. Nhưng đó cũng là đặc điểm trở nên dễ nhận biết một khi gà trưởng thành.

Kết luận

Phương pháp xác định giới tính chính xác nhất đối với mọi giống gà là xem huyệt. Nhưng với những ai không muốn học phương pháp này, hiểu biết rõ về gà của mình và quan sát màu lông tơ, lông cánh và sự phát triển của gà con sẽ giúp chúng ta phân biệt được trống mái một cách sớm nhất. Hãy quan sát gà của bạn và nghiệm xem phương pháp nào ở trên là có tác dụng đối với mình.

Sự Khác Nhau Của Tổ Chim Én Và Tổ Chim Yến / 2023

Tổ Chim én chủ yếu ở trong hang sâu hoặc vùng núi. Chúng săn mồi trên không tại các nơi vắng vẻ, thưa thớt cây cối, ít dân cư hoặc các khu vực gần mặt nước. Chính vì vậy mà nhiều người thường lầm tưởng chim én và chim yến là cùng một loại nhưng trên thực tế nó khác nhau rất nhiều.

Tổ chim én

Chim én làm tổ trong hang, các tòa nhà cũ, đổ nát hay những công trình còn dang dở. Tổ của chúng thường làm bằng bùn, sình, đất sét hoặc cây cỏ.

Vào mùa sinh sản, những con chim én trống sẽ tìm nơi làm tổ và dùng tiếng hót để hút bạn tình.

Đặc tính chim én

Chim én bay giỏi, kỹ năng điêu luyện. Chúng thường bay lượn trên bầu trời theo bầy đàn hoặc đơn lẻ. Chúng chỉ đáp khi tới mùa sinh sản.

Chim én chung thủy theo cuộc sống một vợ một chồng.

Chim én cái một lần đẻ khoảng 1-6 trứng. Trứng chim én có màu trắng, nở sau 19-23 ngày ấp. Khi chim én con nở thường không mở mắt, thân không có lông.

Chim én đực và cái cùng chăm sóc những đứa con của chúng bằng 300-1000 con côn trùng.

Sau 6-10 tuần tuổi, chim én sẽ đủ lông đủ cánh và rời khỏi tổ, tự lực cánh sinh và tiếp tục vòng đời của chim én và không bao giờ quay trở lại tổ nữa.

Tổ chim yến

Chim yến làm tổ từ các chất liệu như: cỏ lông, rêu, lá cây và được gắn kết bằng chính nước bọt của chúng.

Đặc tính chim yến

Chim yến có bộ chân rất yếu, không phát triển; và không thể đậu được trên dây hoặc cây như chim én.

Chim yến có khả năng bay lượn liên tục trên bầu trời cả ngày

Chim yến có 2 loại là yến đảo và yến nuôi

Yến đảo (còn được gọi là tổ yến đảo) hình thành các tổ chim nằm ngoài đảo trên biển. Tổ của chúng được xây trên những vách đá cao dựng đứng hoặc những hang động sâu. Yến đảo có hình dạng giống cái chén, thân dài, chân cứng dùng để bảo vệ trứng và chim non không bị rớt. Với đặc thù tổ yến to, dày, thức ăn hoàn toàn tự nhiên. Vì vậy mà chất lượng dinh dưỡng của tổ yến đảo cao hơn so với yến nhà nuôi.

Yến nuôi là loại chim yến được nuôi trong nhà với các hệ thống tạo ẩm, tạo tiếng chim, tạo mùi hoang dã. Chim yến tự nhiên khi nghe tiếng kêu đồng loại sẽ bay tới thăm dò. Nếu thấy thích hợp sẽ làm nhà ở lại. Thức ăn của yến nuôi là những con côn trùng tự nhiên, không khác yến đảo. Tuy nhiên, do sống trong môi trường nhân tạo, có đặc điểm địa lý và các yếu tố tự nhiên khác biệt; nên tổ yến nuôi có hình dạng và màu sắc khác so với yến đảo. Tổ yến nuôi có màu trắng ngà và thân chắc chắn sẽ mỏng hơn tổ yến đảo.

Về giá cả thì tổ yến đảo có giá đắt nhất trong các loại tổ yến. Do yến đảo có giá trị dinh dưỡng cao và công thu hoạch tổ trên những vách đá cheo leo, dựng đứng nguy hiểm. Còn Yến nuôi do không có những yếu tố như ngoài thiên nhiên; nên phụ thuộc nhiều vào khu vực nuôi. Vì vậy mà giá yến nuôi sẽ thấp hơn yến đảo.

Chim én – Tổ chim én

Chim én có lông màu đen hoặc xanh đen, đuôi chẻ, mỏ lớn hơn chim yến, cánh dài nhọn, ngắn, rộng. Chim én bay lượn thấp hơn chim yến.

Chim yến

Chim yến có bộ lông màu đen, mỏ nhỏ hơn chim én, không chẻ đuôi. Chim yến không đậu được do chân yếu, bay lượn ở tầm cao.