Top 4 # Xem Nhiều Nhất Tuổi Thọ Của Chim Ưng Ấn Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Lamdeppanasonic.com

Tuổi Thọ Của Các Loài Chim

10. Tuổi thọ của các loài chim

Việc tìm hiểu tuổi đời của các loài chim hoang dại, dù đã được chú ý nghiên cứu hơn nửa thế kỷ qua, nhưng cho đến nay người ta cũng chưa biết được gì nhiều lắm. Đây là một vấn đề khá phức tạp, vì chim sống tự do trong thiên nhiên, nay đây mai đó, biết chúng chết lúc nào mà theo dõi, ghi chép. Dùng phương pháp đeo vòng, người ta cũng đã biết được ít nhiều, nhưng lúc bắt lại được chim đeo vòng có phải đã là lúc chim già nhất chưa thì cũng còn phải bàn cãi. Để biết được tuổi đời của các loại chim hoang dại một cách chính xác, phương pháp chắc chắn nhất vẫn là theo dõi chúng ở các vườn nuôi. Nhưng tiếc thay số loài chim hoang dại đã được nuôi từ trước đến nay không phải là nhiều, vả lại do điều kiện sinh sống của chúng trong vườn nuôi, không hoàn toàn giống với điều kiện thiên nhiên, nên tuổi thọ của các cá thể sống trong vườn nuôi cũng có phần sai khác với tuổi thọ của đồng loại của chúng sống trong thiên nhiên. Trong thiên nhiên có lẽ chim gặp nhiều khó khăn hơn ở vườn nuôi về điều kiện khí hậu, về thức ăn, kẻ thù và bệnh tật v.v…, và cũng vì vậy mà tuổi thọ của chim nuôi có lẽ dài hơn so với chim sống trong thiên nhiên. Nói chung, chim có kích thước lớn thường sống lâu hơn chim có kích thước bé, nhưng cũng không phải chim lớn nhất đã có tuổi thọ cao nhất. Đà điểu châu Phi, loài chim hiện đại có cỡ lớn nhất nhưng chỉ sống được khoảng 30 – 40 năm, trong lúc đó dù dì, nhỏ hơn đà điểu nhiều mà thọ đến 68 tuổi.

Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu mấy lâu nay thì tuổi thọ trung bình của các loài chim cùng một nhóm phân loại, không khác nhau nhiều lắm. Tuổi thọ trung bình của chim thuộc bộ Sẻ và bộ Vẹt là 20 năm, của Cú 15 năm, của chim cắt 21 – 24 năm, vịt, ngỗng 20 năm, rẽ giun 10 năm, mòng biển 17 năm, bồ câu 12 năm và gà 13 năm. Đây tuổi thọ của gà rừng, còn gà nhà thì có thể sống 24 – 25 năm và thậm chí có con sống được 30 năm.

Tuổi thọ của một số loài cụ thể được xem như cao nhất đối với loài đó có thể kể như sau. Trong bộ Sẻ thì quạ sống được lâu nhất, có một con đã sống đến tuổi 60 và một con khác đến tuổi 69. Các loài chim sẻ bé có tuổi thọ thấp hơn: chim chích đầu đen 24 năm, hoét 20 năm, sơn ca 20 năm. Trong bộ Cú thì dù dì sống lâu nhất 34, 53 và 68 năm. Trong bộ Vẹt, có vẹt mào châu Úc sống đến 56 năm, và vẹt đỏ Bắc Mỹ 64 năm. Về nhóm chim ăn thịt ban ngày đã có những số liệu như sau: diều hâu châu Phi sống được 55 năm, kền kền Nam Mỹ 52 và 65 năm, đại bàng đầu trọc 38 năm. Trong bộ Ngỗng, ta biết được tuổi thọ của vịt Canada là 33 năm và thiên nga nhỏ 24 năm rưỡi. Trong nhóm sếu có sếu châu Úc sống được 47 năm, sếu xám 43 năm, sếu cổ trụi 42 năm. Bồ nông hồng sống được đến 51 năm và một số loài bồ câu sống đến 30 năm.

Bằng phương pháp đeo vòng người ta cũng đã thu được một số kết quả khả quan như đã bắt được rẽ lớn 9 tuổi, nhạn sống 16 tuổi, nhạn biển 20 tuổi rưỡi, nhạn Bắc cực 14 tuổi, chim cánh cụt trán trắng 22 tuổi, diệc 20 tuổi, cò 11 tuổi, diều mướp 13 tuổi, quạ xám 14 tuổi, sáo 12 tuổi, yến đen 9 tuổi, sẻ nhà 11 tuổi rưỡi, đớp ruồi xám 12 tuổi rưỡi, và nhạn 9 tuổi. Nhóm vịt tuy bị săn bắt rất nhiều nhưng người ta cũng đã bắt được những con sống đến 18 – 20 năm.

Trong thiên nhiên hầu hết các loài chim đều có tỷ lệ tử vong khá cao nhất là vào tuổi chưa trưởng thành, lúc chim chưa đầy một năm tuổi. Hiện tượng này đã ảnh hưởng rõ ràng đến tuổi thọ của chim và việc chim kéo dài được tuổi đời của chúng đến mức tối đa trong thiên nhiên là điều hiếm có. Ở các loài chim thuộc bộ Sẻ, tỷ lệ tử vong vượt quá 50%, như loài đớp ruồi lưng đen chỉ trong năm đầu đã chết 60%, đớp ruồi trán trắng đến 79%. Ở Cộng hòa dân chủ Đức người ta đã đeo vòng cho 77 chim nhạn non, trong năm thứ nhất đã có 51 con bị chết, năm thứ hai 17 con, năm thứ ba 6 con, năm thứ tư 2 con và chỉ còn 1 con sống sót đến năm thứ năm.

Khí hậu khắc nghiệt, nhất là lạnh, cũng đã làm chết khá nhiều chim. Ví dụ, loài chim cánh cụt chúa ở vùng Nam cực là loài chim chịu lạnh giỏi nhất, thế mà có đến 77% chim non bị tử vong vì lạnh. Đối với loài mòng biển, chỉ trong năm đầu đã có đến 0,5% chim non chết, nhưng tỷ lệ tử vong của chim non trong năm đầu chỉ chiếm 17,2% toàn đàn. Vì vậy mà (nếu không kể chim non) thì phần lớn thành viên của đàn chim có tuổi đời từ 3 đến 5 năm.

Đối với các loài chim ở nước, nhất là những loài sống tập đoàn thì tuổi thọ trung bình cao hơn ở chim sẻ và dĩ nhiên tỷ lệ tử vong của chim trưởng thành cũng thấp hơn.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

Tác phẩm: Đời sống các loài chim

Tác giả: Võ Quý

Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội – 1978

Đôi dòng về tác giả: GS. Võ Quý: Ông dành cả cuộc đời say sưa nghiên cứu các loài chim và có nhiều đóng góp lớn cho khoa học môi trường Việt Nam và thế giới. Ông là người Việt Nam đầu tiên ở Châu Á giành được giải thưởng Blue Planet Prize về môi trường.

Tuổi Thọ Của Chim Và Chim Sống Được Bao Lâu

Tuổi thọ của chim và chim sống được bao lâu, loài vật này rất thân thiết với con người. Tuổi thọ của chim không xác định cụ thể, tùy theo từng loài mà tuổi thọ của chúng khác nhau,…

Tuổi thọ của chim và chim sống được bao lâu, loài vật này rất thân thiết với con người. Tuổi thọ của chim không xác định cụ thể, tùy theo từng loài mà tuổi thọ của chúng khác nhau, có những loài chỉ sống được vài năm nhưng có những loài lại sống được tới 102 năm.

Tuổi thọ của chim rất khác nhau tùy theo loài, có thể từ ba đến bốn năm tuổi đối với một số loài chim sẻ và hơn 50 năm đối với một số loài hải âu, và thậm chí hơn 60 năm tuổi đối với một số loài hiếm có như chim kakapo (Strigops habroptilus).

Tuổi thọ của chim và chim sống được bao lâu: Tuổi thọ của chim rất khác nhau tùy theo loài

Trong cùng một loài chim, việc thay lông không những phụ thuộc vào mùa, mà còn vào độ tuổi của chim, do vậy việc biết rõ các thông tin này sẽ giúp tính ra tuổi của nhiều loài chim hoang dã. Ngoài ra mức độ khí hóa khung xương cũng là một đặc điểm được sử dụng để ước tính ra tuổi của chim.

Cho đến nay, con chim già nhất thế giới được ghi nhận là một con vẹt, thọ 102 tuổi, trong điều kiện nuôi nhốt.

Theo thông tin từ Hiệp hội Hoàng gia Bảo vệ chim của Anh ước tính tuổi thọ trung bình của hải âu Manx là 29. Nhưng nhìn chung, tất cả các loài chim biển dường như đều có tuổi thọ cao hơn các loài chim khác. Theo Grantham, điều đó có thể là do chúng sống trong môi trường gần như vắng mặt các kẻ thù tự nhiên.

Chim có danh pháp là Aves, là tập hợp các loài động vật có xương sống, máu nóng, đi đứng bằng hai chân, có mỏ, đẻ trứng, có cánh, có lông vũ và phần lớn là biết bay. Trong lớp Chim, có khoảng 10.000 loài còn tồn tại, giúp chúng trở thành lớp đa dạng nhất trong các loài động vật bốn chi.

Lớp chim cư trú ở các hệ sinh thái khắp toàn cầu, từ vùng Bắc Cực cho tới châu Nam Cực. Các loài chim có kích thước dao động khác nhau, từ nhỏ cỡ 5 cm như chim ruồi cho tới lớn cỡ 2,7 m như đà điểu. Các bằng chứng hóa thạch cho thấy, chim được tiến hóa từ các loài khủng long chân thú trong suốt kỷ Jura.

Vào khoảng 150-200 triệu năm về trước, với đại diện đầu tiên được biết đến, xuất hiện từ cuối kỷ Jura là loài Archaeopteryx (vào khoảng 155-150 triệu năm trước). Hầu hết các nhà cổ sinh vật học đều coi chim là nhánh duy nhất của khủng long còn sống sót sau sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-Paleogen vào khoảng 65,5 triệu năm trước.

Các loài chim hiện đại mang các đặc điểm tiêu biểu như: có lông vũ, có mỏ và không răng, đẻ trứng có vỏ cứng, chỉ số trao đổi chất cao, tim có bốn ngăn, cùng với một bộ xương nhẹ nhưng chắc. Tất cả các loài chim đều có chi trước đã biển đổi thành cánh và hầu hết có thể bay, trừ những ngoại lệ như các loài thuộc bộ Chim cánh cụt, bộ Đà điểu và một số đa dạng những loài chim đặc hữu sống trên đảo.

Chim cũng có hệ tiêu hóa và hô hấp độc nhất mà đáp ứng cao cho hoạt động bay. Vài loài chim, đặc biệt là quạ và vẹt, nằm trong những loài thông minh nhất của giới động vật; một số được quan sát đang chế tạo và sử dụng công cụ, nhiều loài sống thành bầy lại có thể truyền đạt những kinh nghiệm hiểu biết cho thế hệ sau.

Nhiều loài chim hàng năm thường di trú đến những nơi rất xa, cùng rất nhiều loài lại thực hiện những chuyến bay ngắn hơn và bất thường. Chim là động vật sống bầy đàn, chúng giao tiếp với nhau thông qua tiếng kêu và tiếng hót, tham gia vào những hoạt động bầy đàn như hợp tác trong việc sinh sản, săn mồi, di chuyển và tấn công chống lại kẻ thù.

Phần lớn chim là những loài đơn phối ngẫu xã hội, thường vào mùa giao phối trong một thời gian nhất định. Trứng chim thường được đẻ trong tổ và ấp bởi chim bố mẹ. Hầu hết chim non sau khi nở đều có thêm một thời gian được chim bố mẹ chăm sóc.

Nhiều loài chim có tầm quan trọng đối với con người, đa phần được sử dụng làm thức ăn thông qua việc săn bắn hay chăn nuôi. Một vài loài, như phân bộ Sẻ hay bộ Vẹt, được biết đến với vai trò vật nuôi làm cảnh. Hình tượng chim xuất hiện trong tất cả các mặt của văn hóa con người, từ tôn giáo, thần thoại đến thi ca và âm nhạc phổ thông.

Khoảng 120-130 loài chim đã bị tuyệt chủng do hành động con người trong thế kỷ 17, cùng với hàng trăm loài khác sau đó. Hiện nay, có khoảng 1.200 loài đang trong tình trạng đe dọa tuyệt chủng bởi các hoạt động từ loài người, cho dù vẫn đang có những nỗ lực bảo vệ chúng.

Các bằng chứng hóa thạch và phân tích sinh học chuyên sâu đã chứng minh vượt qua bất cứ nghi ngờ có lý nào rằng chim là những loài khủng long chân thú. Cụ thể hơn, chúng là thành viên của Maniraptora, cùng với các nhóm khác như họ Dromaeosauridae và họ Oviraptoridae.

Khi càng nhiều loài khủng long chân thú có mối quan hệ gần gũi với chim được các nhà khoa học phát hiện, thì những điểm khác biệt rõ ràng trước đây giữa chim và loài không phải chim lại càng bị xóa nhòa. Những phát hiện gần đây tại tỉnh Liêu Ninh phía Đông Bắc Trung Quốc, đã chứng tỏ rằng có nhiều khủng long chân thú cỡ nhỏ có lông vũ, lại càng góp phần thêm cho sự không rõ ràng này

Quan điểm đồng thuận trong giới cổ sinh vật học hiện đại cho rằng lớp Chim (Aves), chính là họ hàng gần gũi nhất của cận bộ Deinonychosauria, mà bao gồm hai họ Dromaeosauridae và Troodontidae. Chúng cùng nhau tạo thành một nhóm gọi là Paraves.

Ở chi cơ sở Microraptor của họ Dromaeosauridae, cũng có bộ lông vũ mà có thể được chúng sử dụng để bay lượn. Hầu hết những loài Deinonychosauria cơ sở đều rất nhỏ bé; điều này gia tăng khả năng rằng tổ tiên của tất cả các loài Paraves có thể đã từng sống trên cây, và/hoặc có khả năng chao lượn.

Dù Ornithischia (khủng long “hông chim”) có cấu trúc hông tương đồng với những loài chim hiện đại, chim vẫn được coi là bắt nguồn từ giống khủng long Saurischia (“hông thằn lằn”), mà đã tiến hóa cấu trúc hông của chúng một cách độc lập. Trên thực tế, bên cạnh hai nhóm trên, cấu trúc hông giống chim cũng được tiến hóa trong một nhóm khủng long chân thú riêng biệt, được biết đến là Therizinosauridae.

Vào cuối những năm 1990, bằng chứng về chim là Maniraptora trở nên không thể chối cãi, nên Martin và Feduccia đã chấp nhận phiên bản sửa đổi trong giả thuyết của họ bởi nghệ sĩ dàn dựng khủng long Gregory S. Paul; trong đó những Maniraptora là những loài chim không biết bay thứ cấp, tuy nhiên trong phiên bản đó, chim lại tiến hóa trực tiếp từ Longisquama.

Theo như vậy thì chim vẫn không phải khủng long, nhưng cũng không phải là hầu hết các loài được biết đến mà hiện tại đã được phân loại như khủng long chân thú. Maniraptora, thay vì thế, lại là những loài chim thuộc nhóm Archosaur và không biết bay. Giả thuyết của Martin và Feduccia không được thừa nhận bởi hầu hết các nhà cổ sinh vật học.

Những đặc điểm mà xem như bằng chứng của sự không bay được, theo xu thế chủ đạo của những nhà cổ sinh vật, được giải thích là “sự thích nghi ban đầu” (pre-adation hay exaptation), rằng Maniraptora đã thừa hưởng những đặc điểm từ tổ tiên chung của chúng cùng với các loài chim.

Protoavis texensis được miêu tả năm 1991, coi là loài chim cổ hơn cả Archaeopteryx. Tuy nhiên, những người chỉ trích cho rằng hóa thạch phát hiện có chất lượng bảo quản kém, được phục dựng lại phần lớn, và có thể là một “chimera” (tức được tạo nên từ hóa thạch xương của nhiều loại động vật khác nhau). Hộp sọ của chúng thì gần như rất giống với một loài Coelurosauria thuở ban đầu.

Chim sống và sinh sản ở hầu hết các môi trường trên cạn cũng như ở cả bảy lục địa, trong đó nắm giữ kỷ lục phương Nam là loài hải âu pêtren tuyết khi có thể sinh sản ở khu vực lấn sâu tới 440 kilômét trong châu Nam Cực.

Tính đa dạng cao nhất về các loài chim thuộc những khu vực nhiệt đới. Trước đây, người ta nghĩ rằng tính đa dạng cao là kết quả của tốc độ hình thành loài cao ở những khu vực này, nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy, ở khu vực có vĩ độ cao, tốc độ hình thành loài dù cao hơn nhưng lại bị bù trừ bởi tốc độ tuyệt chủng mà cũng lớn hơn so với vùng nhiệt đới.

Vài họ chim lại có cuộc sống thích nghi ở cả môi trường đại dương, trong số đó, có những loài chim biển vào bờ chỉ duy để sinh sản, và một số chim cánh cụt lại được ghi nhận là có thể lặn ở độ sâu tới 300 mét.

Nhiều loài chim đã thành lập những quần thể giao phối ở những vùng mà chúng được nhập nội bởi con người. Có những loài được nhập nội có chủ ý, ví dụ như loài trĩ đỏ, đã được đưa đi trên toàn thế giới như một loại chim để săn bắt.

Số khác lại mang tính ngẫu nhiên, một ví dụ là sự thành lập của quần thể vẹt thầy tu đuôi dài (Myiopsitta monachus) ở vài thành phố của Bắc Mỹ, sau khi chúng thoát ra khỏi tình trạng nuôi nhốt.

Vài loài khác, bao gồm cò ruồi, diều vằn đầu vàng và vẹt mào ngực hồng đã mở rộng phân bố một cách tự nhiên bên cạnh khu vực phân bố gốc, bởi các hoạt động nông nghiệp đã tạo nên sinh cảnh mới thích hợp cho chúng.

Phân lớp Neornithes gồm:

Paleognathae:

Struthioniformes – Bộ Đà điểu

Tinamiformes – Tinamou

Neognathae:

Anseriformes -Bộ Ngỗng

Galliformes – Bộ Gà

Charadriiformes – Bộ Choi choi (Bộ Rẽ)

Gaviiformes – Chim lặn Gavia

Podicipediformes – Bộ Chim lặn (Bộ Le hôi)

Procellariiformes – Bộ Hải âu (Bộ Chim báo bão)

Sphenisciformes – Bộ Chim cánh cụt

Pelecaniformes – Bộ Bồ nông

Phaethontiformes – Chim nhiệt đới (tropicbird)

Ciconiiformes – Bộ Hạc

Cathartiformes – Kền kền Tân Thế giới

Phoenicopteriformes – Bộ Hồng hạc

Falconiformes – Bộ Cắt

Gruiformes – Bộ Sếu

Pteroclidiformes – Gà cát (sandgrouse)

Columbiformes – Bộ Bồ câu

Psittaciformes – Bộ Vẹt

Cuculiformes – Bộ Cu cu

Opisthocomiformes – Gà móng ở Nam Mỹ (hoatzin)

Strigiformes – Bộ Cú

Caprimulgiformes – Bộ Cú muỗi

Apodiformes – Bộ Yến

Coraciiformes – Bộ Sả

Piciformes – Bộ Gõ kiến

Trogoniformes – Bộ Nuốc

Coliiformes – Chim chuột (mousebird)

Passeriformes – Bộ Sẻ

Chim và gia cầm là một trong những nguồn truyền bệnh chủ yếu ở các cự ly xa đối với con người như các bệnh virút vẹt, bệnh vi khuẩn Salmonella, bệnh vi khuẩn xoắn, bệnh lao gia cầm, cúm gia cầm, sốt hải ly (bệnh do loài ký sinh Giardia lamblia, và bệnh Cryptosporidium gây ra).

Các bệnh này cũng như sự lây lan của chúng cũng được nghiên cứu rất kỹ. Cũng do tầm phổ biến của ngành nuôi gia cầm, việc phát hiện ra các ổ bệnh gia cầm có thể khiến chính quyền địa phương áp dụng các biện pháp triệt để và ngặt nghèo đối với việc chăn nuôi này.

Vào tháng 9 năm 2007, 205.000 con gia cầm tại Bavière đã bị thiêu hủy, 160.000 gia cầm tại Bangladesh cũng đã bị thiêu hủy vào tháng 2 năm 2008 do phát hiện ra ổ dịch cúm gia cầm… Một số bệnh đặc thù như bệnh Pacheco chỉ có ở các loài thuộc bộ Vẹt.

Nuôi chim cảnh là một trong những thú vui của con người, chúng không chỉ là người bạn tâm giao mà còn là niềm vui, là may mắn của mỗi gia đình.

Một số loại chim được nuôi nhiều như họa mi, sơn ca, chích chòe bởi chúng có giọng hót hay lại không khó nuôi.

Cách Nuôi Chim Ưng Ấn Độ, Ưng Shikra Và Ưng Lửa

Khái niệm chim ưng

Chim ưng có tên tiếng Anh là Falcon, là một loài chim thuộc bộ Ưng cùng với đại bàng, diều hâu, kền kền v.v… Chúng đều có tập tính săn mồi và ăn thịt.

Vào năm 1758, nhà khoa học Linnaeus chính thức phát hiện và đặt tên cho loài chim dữ này. Hiện chúng gồm hơn 40 giống khác nhau, sống phân bổ trên khắp thế giới, Tuy nhiên tại nước ta, về cơ bản chỉ có 3 giống chim ưng Ấn Độ, chim ưng Shikra và chim ưng Lửa là được nuôi phổ biến như chim cảnh.

Đặc trưng ngoại hình của chim ưng

Chim ưng có hình dạng tương tự như đại bàng – 1 giống chim cùng thuộc bộ Ưng – nhưng kích cỡ nhỏ hơn. Khi đã đến tuổi trưởng thành, chúng có thể dài từ 25 đến 70cm, tương ứng với cân nặng nằm trong khoảng 0.5 – 4kg. Chim ưng mái có kích cỡ to hơn chim trống rất nhiều, thậm chí còn nặng hơn gấp đôi.

Về hình dạng, ta dễ dàng nhận thấy phần đầu chim ưng khá bé và nhọn, chiếm một tỷ lệ nhỏ trên toàn bộ cơ thể. Vì là loài chim săn mồi nên mắt của chúng rất sáng và to, thị lực cực tốt. Chiếc mỏ thì to và cứng, phần trên dài và quặp vào, đảm bảo cắp ngay được con mồi chỉ trong một cú mổ.

Nằm giữa mỏ và mắt chính là lỗ mũi to tròn. Chiếc cổ dài nhỏ nối liền đầu với phần còn lại của cơ thể, bộ phận này rất chắc khỏe và dẻo dai, có thể rướn ra, rụt vào tùy ý.

Chim ưng có bộ ngực nở nang, săn chắc, phần lưng bằng phẳng. Vì phải săn mồi với tốc độ chớp nhoáng nên chúng không có bụng và tỷ lệ mỡ thừa trong cơ thể gần như là zero.

Sải cánh của chim ưng dài và mỏng, có thể dễ dàng mượn sức gió để bay lượn giữa không trung hoặc tăng tốc đột ngột. Phần đuôi dài, chắc chắn, có tác dụng góp phần giữ thăng bằng và điều chỉnh hướng bay. Đôi chân cực kỳ chắc khỏe với bộ móng vuốt sắc nhọn, giúp chúng giữ cứng được con mồi hay bám vào vách đá cheo leo.

Chim ưng thường có lông màu nâu, phần ngực – bụng nhạt nhất với màu trắng sữa. Đầu cổ và vùng cánh đậm màu hơn, nhất là phần đuôi chuyển sang sắc nâu đậm đi kèm với các vệt đen. Bộ lông của chúng được tạo thành từ 2 lớp, bao gồm lớp lông mềm và nhẹ ở bên trong, và lớp lông vũ dày, cứng nằm bên ngoài.

Chim ưng có đặc tính gì?

Đây là loài chim có tuổi thọ trung bình cao, tầm hơn 20 tuổi. Là sát thủ trên không, tốc độ của chim ưng có thể đạt đến 320km/giờ. Chúng cũng sở hữu thị lực siêu tốt, gấp 2.6 lần so với loài người, có thể nhìn thấy con mồi ngay trong bóng tối.

Thức ăn và cách săn mồi của chim ưng

Chim ưng là loài động vật ăn thịt hoàn toàn. Thức ăn của chúng bao gồm các loài thú nhỏ sống trên mặt đất như gà, thỏ, chuột, rắn; các loài chim nhỏ bay trên trời và một số động vật thuộc bộ móng guốc như hươu, nai v.v…

Chim ưng thường đậu ở trên mỏm đá cao, nhìn bao quát khắp phạm vi xung quanh để xác định con mồi. Chúng nhìn được ở cự ly xa và có thể khóa lấy vị trí đối tượng đi săn một cách vô cùng chính xác.

Khi chờ đến thời điểm thích hợp nhất, chim ưng sẽ dùng tốc độ cực nhanh để lao thẳng đến con mồi trong tích tắc; sau đó chụp cứng con mồi bằng móng chân sắc nhọn rồi cắp lên cao và thả con mồi rơi xuống đất nhằm giết chết đối phương

Đợi đến khi con mồi chết hẳn, chúng mới bắt đầu thưởng thức bữa ăn của mình.

Chim ưng có khả năng sinh sản như thế nào?

Chim ưng ghép đôi với nhau theo hình thức một trống – một mái. Tốc độ sinh sản của chúng khá chậm, mỗi năm chỉ đẻ trứng một lần vào tiết xuân.

Mà mỗi lần đến mùa sinh sản như vậy, chim ưng mái chỉ đẻ tầm 2 – 3 trứng. Những quả trứng này có kích cỡ tương đương với trứng vịt và mang sắc trắng xanh.

Các cặp “vợ chồng” chim ưng thường làm tổ đẻ tại những khe đá hoặc hốc cây. Bên trong dùng lá cây khô hoặc rơm khô để lót ổ.

Sau khi đẻ xong, cả chim mái lẫn ưng trống đều thay phiên nhau ấp trứng cũng như nuôi con non cho đến khi chúng trưởng thành. Khi vừa mới nở, chim non còn rất yếu ớt, bộ lông phủ trên người lơ thơ thưa thớt và chưa thể đứng vững. Phải mất đến 3 – 8 tuần, chim ưng non mới bắt đầu được bố mẹ dạy cách đi lại. Sau đó lại phải chờ đến khi được 1 – 3 tuổi, chúng mới thật sự nắm được các kỹ năng cần thiết và có thể đi săn độc lập.

Chim ưng thường sống ở đâu?

Là thú săn mồi hoang dã, chim ưng thường cư ngụ tại các dãy núi cao và trong rừng rậm. Chúng không sống theo hình thức bầy đàn mà ghép thành từng đôi trống – mái hoặc sống riêng lẻ.

Các dòng chim ưng phổ biến nhất

Chim ưng Ấn Độ

Đứng đầu trong số những dòng chim ưng người dân nước ta nuôi nhiều nhất là ưng Ấn Độ. Chúng đặc biệt được yêu thích vì sự thông minh và dễ huấn luyện mặc dù tính tính hơi hung dữ.

Bộ lông toàn thân chim ưng Ấn Độ thường có màu nâu sẫm, điểm xuyết những đường sọc ngang nâu đen. Phần chân và mặt nổi bật hẳn lên với màu vàng chanh, phần đầu cũng hơi pha vàng một chút.

Ưng Ấn Độ trưởng thành thường có cân nặng dao động trong khoảng 400 – 700g. Dù kích thước cơ thể nhỏ gọn nhưng giống chim này lại rất dũng mãnh, tốc độ bay cực kỳ nhanh và là một tay săn mồi điệu nghệ.

Cũng như các loài chim ưng khác, con mái của ưng Ấn Độ sở hữu thân hình to cao, nặng kí hơn chim trống, đồng thời cũng được bán với mức giá cao hơn. Tại Việt Nam, bạn hầu như chỉ có thể tìm mua chim ưng Ấn Độ non tại Hồ Chí Minh hoặc Hà Nội, còn các vùng khác hầu như không bán.

Chim ưng Shikra

Giống chim này có tên khoa học là Accipiter Badius, do nhà động vật học Gmelin đặt vào năm 1788. Ngoài ra, chúng còn thường được biết đến dưới tên gọi chim ưng xám.

Sở dĩ gọi như vậy vì toàn thân chim Shikra được bao phủ bởi lớp lông vũ dài, dày, bóng mượt và lấy sắc xám làm chủ đạo. Trong đó, phần đầu, ngực cùng bụng của chúng nhạt màu nhất với sắc xám trắng. Lông ở những phần còn lại đậm đà và cứng cáp hơn, thường mang màu xám xanh, xám nâu. Trên mình chúng còn có các đường vân ngang sậm màu được sắp xếp đều đặn.

Dòng chim ưng Shikra thuộc dạng “nhỏ mà có võ”. Một con trưởng thành chỉ dài từ 25 – 30cm. Chúng sống nhiều nhất ở vùng châu Á và châu Phi.

Chim ưng Lửa

Tên khoa học của chim ưng Lửa là Buteo Jamaicensis, cũng do nhà động vật học Gmelin phát hiện và đặt tên vào năm 1788. Vì sở hữu chiếc đuôi nâu đỏ dài gần bằng cơ thể nên loài chim này còn được gọi là chim ưng Đuôi Lửa.

Chúng sinh sống tập trung ở khu vực phía Tây Ấn Độ và vùng Bắc Mỹ. Đây là giống chim có kích thước tầm trung, trọng lượng cơ thể rơi vào khoảng 1.5 – 3.5kg, và chiều dài cơ thể nằm ở mức 45 – 65cm.

Chim ưng Lửa đực thường chỉ nhỏ bằng 3/4 so với con mái. Chúng sở hữu bộ lông màu trắng nâu, có những vạch ngang xám nâu nằm trên cánh và chân, cùng với chiếc mỏ quặp dài nhọn màu xám.

Nên chọn mua chim ưng như thế nào?

Vì chim ưng là loài động vật hoang dã có tính tình hung dữ, cho nên khi chọn mua chim ưng cần phải chú ý thật kỹ càng để tìm đúng đối tượng phù hợp, tránh những rắc rối có thể xảy ra sau đó.

Điều cần lưu ý tiếp theo là tình trạng sức khỏe của chim ưng. Để đảm bảo yếu tố này, bạn cần quan sát kỹ ngoại hình của chúng, từ bộ lông, đôi chân, hai cánh, đầu mỏ cho đến trạng thái tinh thần.

Lời khuyên mà Dogily dành cho bạn là nên chọn những chú chim có bộ lông dày dặn, mượt mà; đồng thời sở hữu đôi chân khỏe khoắn, hai cánh dài rộng và chắc chắn, đôi mắt sáng tinh anh.

Ngoài ra, bạn hãy chọn con chim nào hoạt bát, sôi nổi, thích hoạt động và có tiếng kêu to, rõ ràng.

Hướng dẫn huấn luyện chim ưng

Vào thời gian đầu khi mới bắt đầu nuôi, các bạn nên xích chân hoặc nhốt chim ưng trong lồng. Làm như vậy để tránh cho chúng bỏ đi và dần dần quen với môi trường nuôi nhốt.

Lượng thức ăn hợp lý cho chim ưng là bằng 1/10 cân nặng cơ thể của chúng. Về khẩu phần và cách cho ăn, chúng tôi sẽ hướng dẫn chi tiết hơn trong mục tiếp theo của bài viết.

Bên cạnh việc cho ăn, bạn còn cần thường xuyên chơi đùa, vuốt ve, trò chuyện với chim cảnh nhà mình. Khi hai bên đã quen thuộc với nhau rồi, bạn có thể để chúng đứng ăn trên bàn tay đã đeo găng, rồi dần dần huấn luyện chúng cách vồ mồi và săn mồi.

Cách nuôi chim ưng

Cho chim ưng uống nước như thế nào?

Trong quá trình nuôi chim ưng, rất nhiều người gặp phải khó khăn khi cho chúng uống nước. Vì đây vốn là thú hoang và không quen với môi trường nuôi nhốt, nên cho dù bạn đặt bát nước trước mặt thì chúng cũng không hiểu được ý đồ của bạn và sẽ không uống.

Một số bạn khác dùng xi-lanh hoặc ống cao su mềm để đưa thẳng nước vào thực quản của chim ưng. Tuy nhiên cách làm này sẽ khiến chúng sợ, khiến bạn gặp khó khăn trong việc huấn luyện sau này. Hơn nữa nếu thực hiện thiếu chính xác, nước sẽ chảy vào khí quản thay vì thực quản, làm chim bị sặc, ngạt thở, rất không có lợi.

Vậy thì phải làm thế nào mới đúng? Lời khuyên của chúng tôi là hãy dùng đầu ngón tay chạm nhẹ vào bát nước trước mặt chim. Khi nhìn thấy sóng gợn lăn tăn trong bát, chúng sẽ hiểu đấy là nước.

Nếu làm vậy mà chim ưng vẫn chưa chịu uống, thế thì hãy chấm ngón tay vào bát nước rồi nhỏ lên mỏ chúng. Cứ lặp lại như vậy nhiều lần cho đến khi chim cưng nhà bạn tự uống nước được.

Ngoài ra, vì là động vật săn mồi nên chim ưng rất thích máu. Do đó, nếu có vài giọt máu tươi trong bát thì chúng sẽ phấn khích và chủ động uống hơn nhiều.

Cho chim ưng ăn như thế nào?

Có hai cách cho chim ưng ăn là tự ăn và đút ăn.

Tự ăn là cho chúng ăn những con mồi của chúng trong tự nhiên như chim, thỏ, gà v.v… Đầu tiên bạn mang những con thú nhỏ này tới cho chim nhìn thấy; sau đó rạch một phần lông của con mồi, để lộ phần thịt đỏ. Khi máu tươi chảy ra, chúng sẽ có phản ứng đớp không khí. Lúc ấy, bạn hãy đặt đồ ăn lên cần đậu rồi chim sẽ tự ăn.

Đút ăn là phương pháp loại bỏ hết phần da lông của con mồi, chỉ để lại phần thịt rồi cắt thành từng miếng nhỏ bằng đầu ngón tay và cho chim ăn. Đối với cách này, phản ứng của chim ưng sẽ chậm hơn so với tự ăn một chút.

Bạn cũng có thể kết hợp ăn với uống bằng cách đặt miếng thịt bên cạnh bát nước có nhỏ máu tươi, như thế chim sẽ vừa ăn vừa uống, tiện lợi hơn nhiều.

Lưu ý lúc đút thịt cho chúng ăn nhớ đưa từ trên xuống, dừng lại ở trước mỏ chim. Phải làm vậy thì ưng vốn có thói quen dùng móng để chụp con mồi, nếu sơ ý thì chúng sẽ làm tay bạn bị thương.

Chim ưng có giá bao nhiêu?

Đối với các giống chim ưng được nhân giống tại Việt Nam, loại nhỏ có mức giá khoảng 1 – 3 triệu VND; loại to sẽ nhích lên tầm 3 – 7 triệu đồng. Còn dòng nhập khẩu thì giá cả sẽ cao hơn nhiều, chắc chắn không dưới con số 20 triệu.

Dương Chòe: Bán Chim Săn Mồi Ưng Ấn, Shikra

Đang xem chuyên mục: CÂY CẢNH, VẬT NUÔI

Up tinTheo dõi tin này

Bán chim săn mồi : ưng ấn, shikra… bẫy / đút.

Bán chim cảnh các loại: chào mào, chòe, khuyên, mi, gáy, ngũ sắc…

Bán chim phóng sinh.

Nhận xay và sấy cám theo yêu cầu.

Liên hệ trước để có giá tốt nhất.

Dương Chòe – 0934.76.4078

ĐC: Chợ Hàng Hải Phòng – số 25 Hoàng Minh Thảo (gần 390 Nguyễn Văn Linh)

CÁC TIN CÙNG NGƯỜI ĐĂNG

Dương Chòe: Bán chim phóng sinh (05/05/2016)

Dương Chòe: Bán chòe than, chòe lửa, sáo nâu, yến phụng, chim phóng sinh (18/04/2016)

Dương Chòe: Bán chim phóng sinh và chim cảnh các loại (01/04/2016)

Dương Chòe: Bán khuyên đẹp (17/03/2016)

Dương Chòe: Bán chòe đất đầu vụ (10/03/2016)

Dương Chòe: Bán Chào mào các loại, Khuyên, Cu gáy, Quế lâm, Chim phóng sinh (13/11/2015)

Dương Chòe: Bán chòe lửa, chòe than, chòe than nam (13/11/2015)

Dương Chòe: Bán chim săn mồi ưng ấn, shikra (08/08/2015)

Dương Chòe: Bán chào mào, cu gáy, chòe than non, chòe lửa đực mái… (25/06/2015)

Dương Chòe: Bán buôn, bán lẻ chim cảnh các loại và thức ăn cho chim (12/05/2015)

CÁC TIN MỚI NHẤT CÙNG CHUYÊN MỤC: CÂY CẢNH, VẬT NUÔI

CÁC TIN ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT THUỘC CHUYÊN MỤC: CÂY CẢNH, VẬT NUÔI

Bán lưới bẫy chào mào, bẫy gà rừng, bẫy chim quốc, chim sẻ, chim khuyên, sâu đầu đỏ (13/03/2015) (35601 lượt xem)

Bán chim cảnh tại Hải Phòng (17/06/2015) (32916 lượt xem)

Chuyên thuốc cho gà đá thuốc gà đá breco, thuốc tăng lực gà đá, thuốc gà đá không chạy (04/02/2016) (29919 lượt xem)

CHUYÊN CUNG CẤP CHÀO MÀO HUẾ lô thứ 2 (11/01/2016) (21534 lượt xem)

Thuốc gà đá bán và cung cấp thuốc cho gà đá, các dịch vụ khác (17/12/2015) (21339 lượt xem)

Những ACE nào yêu quý cửa hàng chim cảnh Phùng Du xin vào đây . Chuyên cung cấp chào mào SongKon và Đèo Nam chuẩn vùng miền. Thông tin luôn cập nhật tại http://chimcanhviet.vn/forum/showthread.php?t=148821 (31/12/2013) (19538 lượt xem)

bán chó becgie lai 45 ngày tuổi chó bố chó mẹ đều là giống to đẹp (27/10/2013) (16524 lượt xem)

Bán cá chọi cảnh – betta dragon halfmoon, plakat… (22/07/2013) (14535 lượt xem)

Bán lồng chim làm thủ công /. (05/11/2013) (14110 lượt xem)

CHÒE THAN LONG AN _TIẾP TỤC CẬP BẾN, XIN KÍNH MỜI CÁC NGHỆ NHÂN NUÔI CHÒE (29/04/2015) (14036 lượt xem)